Hiển thị các bài đăng có nhãn giáo-dục-Nhật-Bản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giáo-dục-Nhật-Bản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2016

Sự khác biệt trong cách dạy con của Hoàng gia Nhật và "gia đình có điều kiện" Trung Quốc

Giả sử thay "gia đình có điều kiện Việt Nam" vào chỗ "gia đình có điều kiện Trung Quốc" thì có lẽ vẫn đúng.

Nhiều điều muốn nói về Việt Nam, gần đây, tựa như hay được nói tránh đi thành Trung Quốc. Một lối uyển ngữ hóa của báo chí Việt hiện nay.


Bài trên VNN.


---



Sự khác biệt trong cách dạy con của Hoàng gia Nhật và "gia đình có điều kiện" Trung Quốc


Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên khi nhận ra sự khác biệt một trời một vực giữa cách dạy con của Hoàng gia Nhật Bản và phương pháp giáo dục của nhiều "gia đình có điều kiện" ở Trung Quốc.
Người ta vẫn nói, Nhật Bản là một đất nước thần kỳ với những quan niệm đi ngược hẳn lại với nhiều quốc gia khác trên thế giới. Có lẽ chính sự khác biệt ấy đã khiến một đất nước ít tài nguyên và hay gặp thiên tai như Nhật Bản phát triển được như ngày hôm nay.
Không giống với các bậc phụ huynh ở nhiều quốc gia châu Á khác, đặc biệt là những gia đình nhiều tiền lắm của, lúc nào cũng nâng niu bao bọc con cái như bảo vật, người Nhật lại có những phương pháp dạy con vô cùng đặc biệt để con có thể tự lập ngay từ khi còn bé.
Vậy các đại gia ở đất nước mặt trời mọc dạy con như thế nào nhỉ? Hãy nhìn vào cách Hoàng gia Nhật, biểu tượng của quyền lực và sự vinh hoa phú quý ở nước này dạy Công chúa Aiko, con gái của Hoàng Thái tử nên người và so sánh với phương pháp giáo dục của một gia đình thuộc dạng có điều kiện bất kỳ ở Trung Quốc, chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên đấy!
1. Tính tự lập
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản 

Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản 

Người ta có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh Công chúa Aiko tự đeo cặp sách hay tự cầm ô tung tăng bước vào cổng trường. Nhiều người không khỏi thắc mắc, đường đường là Công chúa của một đất nước, vậy mà khi đến trường lại phải tự đeo cặp sách trên vai ư? Thế mấy ông vệ sĩ đi theo để làm gì nhỉ? Một người có thân phận cao quý như Công chúa với cả đám tùy tùng theo hầu đằng sau thì không nên làm những việc nhỏ nhặt này mới phải chứ!
Tuy nhiên, đối với người Nhật, gây phiền phức cho những người xung quanh là một việc không nên, vì vậy, trẻ em Nhật ngay từ nhỏ đã được giáo dục phải tự làm những việc của mình, tránh làm ảnh hưởng đến người khác, cho dù chỉ là việc nhỏ nhặt nhất như đeo cặp sách đến trường.
Trong khi đó, tại Trung Quốc, hàng ngày người ta đều được chứng kiến cảnh tượng những người già che ô hay cầm cặp sách cho con cháu mỗi khi đến trường. Chính sự bao bọc thái quá của các bậc phụ huynh nước này đã tạo cho lũ trẻ thói quen sống ỷ lại, dựa dẫm vào người lớn.
2. Con đường đến trường
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Gia đình Hoàng Thái tử Nhật cho rằng, việc đưa đón Công chúa đi học sẽ hình thành lối suy nghĩ "mình là số 1, mình là người được ưu tiên" trong tâm hồn trẻ thơ và kéo giãn khoảng cách giữa Công chúa với các bạn cùng trang lứa, gây ra những ảnh hưởng không tốt tới việc hình thành nhân cách của cô bé.
Chính vì vậy, Công chúa sẽ không được đưa tới tận cổng trường mà chỉ đi đến một khu vực gần trường học rồi tự đi bộ vào lớp. Người dân Nhật không mấy ngạc nhiên khi thấy Công chúa nước mình cuống quýt chạy vào trường cho kịp giờ lên lớp, đây cũng là một minh chứng cho thói quen làm mọi việc cực kỳ đúng giờ của người dân xứ Phù Tang.
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Còn tại Trung Quốc, mỗi giờ vào lớp hay tan học, những khu vực gần cổng trường luôn trong tình trạng tắc nghẽn, bởi có hàng đoàn xe của các vị phụ huynh đang nối đuôi nhau chờ đưa đón con mình. Theo những vị phụ huynh này, để con cái tự mình đi đến trường là một việc làm nguy hiểm, đồng thời vì muốn con mình "mưa không đến mặt, nắng chẳng đến đầu", thế nên họ chỉ có thể yên tâm khi tự mình đưa đón con đi học. Lâu dần, những đứa trẻ được bố mẹ đưa đón mỗi ngày sẽ có sự so sánh với các bạn khác cùng cảnh ngộ và hình thành suy nghĩ: phải được đưa đón bằng xe đẹp, nếu không sẽ trở thành trò cười cho những người xung quanh.
3. Bồi dưỡng năng khiếu
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Người Nhật cực kỳ chú trọng việc bồi dưỡng năng khiếu và phát triển tiềm năng cho con trẻ. Các thầy cô giáo ở Nhật sẽ tìm cách khuyến khích học sinh của mình tham gia vào những câu lạc bộ phù hợp với khả năng. Có lẽ người dân nước này đều biết, Công chúa của mình rất chăm chỉ luyện thư pháp mỗi khi có thời gian rảnh rỗi, thay vì cắm cúi vào những thú vui vô bổ như nhiều vị tiểu thư đài các trên thế giới.
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Trong khi đó, tại Trung Quốc, đa số các bậc phụ huynh lại luôn muốn ép con cái phát triển toàn diện về mọi mặt, khiến cho lũ trẻ rơi vào trạng thái học hành quá tải. Tuy nhiên, không giống như người Nhật, sau giờ học thường hướng con trẻ vào những hoạt động bổ ích cho trẻ thơ hoặc rèn giũa bản thân, người Trung Quốc lại để con cái tự do vui chơi và làm những việc mình thích, kể cả việc ngồi dán mắt vào màn hình chơi game suốt ngày.
4. Sự quan tâm từ phía gia đình
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Trong hầu hết các gia đình giàu có tại Trung Quốc, bố mẹ quanh năm suốt tháng chỉ biết cắm cúi kiếm tiền hay dành phần lớn thời gian cho những cuộc gặp xã giao mà thờ ơ với con cái, bởi vì rất nhiều người cho rằng, chỉ cần chu cấp thật nhiều tiền là lũ trẻ có thể sống một cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc.
Còn trong gia đình Hoàng gia Nhật, cho dù phải đối mặt với trăm công nghìn việc mỗi ngày, Thái tử và Thái tử phi vẫn luôn cố gắng dành thời gian bên con trong những cột mốc quan trọng của cuộc đời cô bé, cùng con trưởng thành. Họ không bao giờ vắng mặt trong các buổi lễ khai giảng, các buổi họp phụ huynh, các buổi lễ tốt nghiệp, hay thậm chí là đại hội thể thao của con gái. Có lẽ họ hiểu được rằng, sự yêu thương, quan tâm phải xuất phát từ trái tim chứ không phải cứ dùng tiền là mua được.
5. Đặc quyền trong bữa ăn trưa ở trường
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Chắc chắn mọi người đều nghĩ rằng cơm trưa của Công chúa sẽ toàn là những món sơn hào hải vị, khác xa so với bữa ăn của các học sinh bình thường. Thế nhưng, sự thật là mỗi ngày Aiko đều mang theo cơm hộp do mẹ chuẩn bị, gồm toàn những món ăn bình dân quen thuộc của người Nhật. Ngay cả khi xuất thân trong gia đình danh giá, Aiko cũng sống một cuộc sống vô cùng giản dị.
Trong khi đó, những gia đình giàu có ở Trung Quốc lại luôn muốn con mình phải được đối xử thật đặc biệt, và họ chứng minh "đẳng cấp" bằng cách không tiếc tiền cho con mua những bữa ăn đắt tiền mà các bạn học bình thường chỉ có thể nhìn ngắm từ xa.
6. Công chúa cũng cần phải lễ phép giống như mọi người
Nhắc đến Hoàng gia, người ta sẽ nghĩ ngay đến quyền lực, và tất nhiên, ai cũng cho rằng đi kèm với thế lực sẽ là những đặc quyền mà những người thường dân ao ước cả đời cũng chẳng thể có được. Tuy nhiên, khác với suy nghĩ của nhiều người, Công chúa Nhật Bản không hề làm ra vẻ cao ngạo hay tỏ thái độ của bậc "bề trên".
Cũng giống như bao đứa trẻ khác ở Nhật, Công chúa Aiko được dạy dỗ cách cư xử theo đúng phép tắc và luôn giữ lễ nghĩa trong mọi hoàn cảnh. Thậm chí, Công chúa Aiko cho rằng, càng có thân phận cao quý thì lại càng phải lễ phép, bởi vì cô phải trở thành một tấm gương sáng cho người dân Nhật Bản noi theo.
Ngược lại, rất nhiều "cậu ấm cô chiêu" ở Trung Quốc lại tự cho mình đặc quyền của một ông hoàng và luôn tỏ ra khinh thường những người không cùng "đẳng cấp" với mình. Có lẽ, đối với những đứa trẻ con nhà giàu này, có tiền là có tất cả.
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Chính nhờ nền giáo dục khắt khe và khiêm nhường trên mà đất nước Nhật Bản mới phát triển được như ngày hôm nay và trở thành niềm ước ao của biết bao người. Lối sống giản dị của Công chúa Aiko là sự phản ánh chân thực nhất về Hoàng gia Nhật Bản và có lẽ đây chính là nguyên nhân khiến cho người dân đất nước mặt trời mọc cực kỳ ủng hộ Thiên hoàng và chế độ Quân chủ lập hiến đã tồn tại suốt bao nhiêu năm qua ở xứ sở của mình.
(Theo Trithuctre)

http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/294345/su-khac-biet-trong-cach-day-con-cua-hoang-gia-nhat-va-gia-dinh-co-dieu-kien-trung-quoc.html

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2016

Một công việc của chúng tôi ngày trước

Anh C. đã nhập quốc tịch Nhật từ lâu, mang họ của bà xã, mà là cùng họ với Murakami. 

Lúc chúng tôi mới chân ướt chân ráo đến Đông Kinh, anh hay chỉ dẫn phát âm và ngữ pháp tiếng Nhật. Anh kể: hồi ấy (giữa thập niên 1970), lẽ anh đi Đài Loan học, nhưng thế nào, lại đến Nhật. Lúc mới đến, tiếng hầu như bằng không. Các đàn anh lớp trước như cụ M., cụ Th., là thầy giáo kèm học tiếng miễn phí.

Các anh ấy đều đi từ Sài Gòn. Và trước năm 1975. 

Đôi khi, anh kể chuyện làm thêm thời của các anh. Anh C. thì khoái việc chăm sóc ngựa ở trường đua. Anh bảo: công việc ấy có nhiều thú vị, mà được trả lương làm thêm khá cao. 

Tới thời của bọn tôi, thì công việc đa dạng. Thượng vàng hạ cám. Có việc thì thu nhập cao (khoảng 1 vạn Yên/1h), cũng có việc rất bèo (chỉ khoảng 7-800 Yên/1h), tức một trời một vực.

Có một thời gian, do hết mọi loại học bổng, phải tự bươn chải cuộc sống cộng với đóng học phí (đóng theo học kì --- mỗi năm hai lần), nên tôi cũng đầu quân vào công việc bán hàng. Tuyển chọn tương đối khó. Rất ít lưu học sinh nước ngoài được chọn. Làm việc phải hết mình. Đến khi đã bắt đầu thành thạo, thì lại được cấp học bổng trở lại.

Hôm nay, xem một video mà nhớ lại chuyện ngày trước:



Thứ Ba, 3 tháng 5, 2016

Về học vị Tiến sĩ (bài Trần Văn Thọ)


Lấy về từ VnEx.

---


Thứ tư, 4/5/2016 | 04:00 GMT+7


Đánh giá luận án tiến sĩ thế nào


"Giáo sư hướng dẫn chịu trách nhiệm đầu tiên về việc đánh giá. Không một giáo sư chân chính nào thấy luận án của học trò mình chưa đạt tiêu chuẩn khách quan về học thuật và độc sáng mà dám đưa ra hội đồng bảo vệ", GS Trần Văn Thọ viết.

Bài này GS Trần Văn Thọ viết để đóng góp vào Đề án cải cách giáo dục Việt Nam do một số trí thức trong và ngoài nước thực hiện vào năm 2008. Toàn bộ nội dung của Đề án được đăng trên Thời đại mới số 13, tháng 3/2008. 
Về giáo sư hướng dẫn và cơ sở đào tạo tiến sĩ
Với bối cảnh hỗn loạn, vàng thau lẫn lộn, về học hàm học vị trong thời gian qua, những tiêu chí cứng để định tư cách của giáo sư hướng dẫn (số công trình nghiên cứu, kinh nghiệm hướng dẫn nghiên cứu sinh...) hoặc tư cách của cơ sở đào tạo (số người có học hàm giáo sư hoặc phó giáo sư, số người có học vị tiến sĩ…) có lẽ không hoàn toàn thích hợp. Tốt nhất là nhà nước thành lập các ban thẩm định chuyên ngành gồm những nhà khoa học có thành tích nổi bật (mà xã hội đã biết đến), những nhà nghiên cứu đã lấy bằng tiến sĩ tại các đại học có uy tín ở nước ngoài, hoặc những trí thức người Việt đã có kinh nghiệm, hoặc đang hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ ở nước ngoài.
Các ban này sẽ đánh giá tư cách tham gia đào tạo tiến sĩ của những giáo sư, hoặc phó giáo sư trong danh mục người có nguyện vọng, và đánh giá tư cách tham gia đào tạo của các viện nghiên cứu hoặc các khoa ở đại học. Những cơ sở đào tạo tiến sĩ đã có cũng phải được thẩm định trở lại. Trước mắt tạm ngừng các chương trình đào tạo tiến sĩ tại các viện, các trường này cho đến khi có kết quả thẩm định nói trên.
Sau chừng nửa năm hoặc một năm hoạt động, các hội đồng thẩm định công bố danh sách trường, viện và tên các giáo sư đã qua thẩm định và được thừa nhận có tư cách đào tạo tiến sĩ. Những nghiên cứu sinh đã được nhận vào các viện, các trường không đủ tư cách đào tạo tiến sĩ phải thi lại vào các viện, các trường có tư cách đó. Ngoài ra, cần khuyến khích những “tiến sĩ” đã lấy bằng tại các cơ sở không đủ tiêu chuẩn mạnh dạn xin bảo vệ lại tại những viện, những truờng có đủ tiêu chuẩn đào tạo.
Cơ chế, phương pháp đánh giá luận án tiến sĩ
Khi các vấn đề về chuẩn mực của luận án, về cơ chế nghiên cứu học tập của sinh viên và về tư cách giáo sư hướng dẫn được giải quyết đúng đắn thì việc đánh giá luận án không còn là vấn đề khó khăn. Hơn nữa, giáo sư hướng dẫn là người chịu trách nhiệm đầu tiên về việc đánh giá. Không một giáo sư chân chính nào thấy luận án của học trò mình chưa đạt tiêu chuẩn khách quan về học thuật và độc sáng mà dám đưa ra hội đồng bảo vệ.
Có thể còn nhiều dư địa để cải thiện hơn nữa mà giáo sư hướng dẫn không thấy hết nhưng ít nhất 2 tiêu chí nói trên của luận án tiến sĩ được xem là đạt rồi mới cho bảo vệ. Trên cơ sở đó, các giáo sư khác trong hội đồng, cũng trên uy tín của mình, phải đánh giá thẳng thắn. Ở đây không cần bảo vệ kín mà vẫn giữ được sự khách quan là vì vậy. Cần nói thêm nữa là trong quá trình chuẩn bị luận án, nên để nghiên cứu sinh được báo cáo trước hội đồng chấm luận án một hoặc hai lần trước khi bảo vệ cuối cùng ít nhất là một năm để nhận các ý kiến hướng dẫn cho giai đoạn tới.
Ngoài ra, để bảo đảm tối đa sự khách quan của việc đánh giá, ở Nhật đặt cơ chế xã hội hoá việc đánh giá trước khi cho nghiên cứu sinh bảo vệ. Có hai hình thức xã hội hoá. Một là để được bảo vệ cuối cùng, nghiên cứu sinh phải có ít nhất từ một đến ba (tuỳ trường đại học) công trình liên quan đến luận án đăng ở các tạp chí có thẩm định độc lập (referee). Tạp chí có thẩm định độc lập là tạp chí khi ban biên tập nhận bài xin gửi đăng sẽ gửi bài đó (sau khi che giấu tên người viết) đến ít nhất 2 nhà nghiên cứu cùng ngành để nhờ thẩm định. Tên tuổi của những người thẩm định dĩ nhiên không được công bố. Người thẩm định sẽ dựa trên tiêu chuẩn học thuật và tính độc sáng của bài viết khi đưa ra quyết định đăng hay không.
Hai là, cho nghiên cứu sinh báo cáo trước đại hội toàn quốc hàng năm của ngành chuyên môn. Ở Nhật nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ có thể trở thành thành viên của các hội khoa học. Để được báo cáo, nội dung tóm tắt của luận án phải được thông qua ở ban tổ chức đại hội. Điều quan trọng là trước mặt các nhà khoa học trên toàn quốc, luận án của học trò mình bị chê là không độc sáng hoặc thiếu sót lớn về mặt khoa học thì người chịu tai tiếng đầu tiên là giáo sư hướng dẫn.
Dự thảo của Bộ Giáo dục về quy chế đào tạo tiến sĩ cũng đưa ra quy định là nghiên cứu sinh phải có ít nhất một bài viết đăng ở một tạp chí uy tín thế giới. Tạp chí uy tín thế giới là khái niệm mang tính chủ quan nên có thể bị giải thích tùy tiện và do đó điều kiện có ít nhất một bài viết trên một tạp chí như vậy không phải là khó, hoặc ngược lại nếu đưa ra một định nghĩa khắc khe thì khó có nghiên cứu sinh nào thỏa mãn điều kiện này. Theo tôi nên thay cụm từ “tạp chí uy tín thế giới” bằng cụm từ tạp chí khoa học chuyên ngành có thẩm định độc lập. Trước mắt hầu hết tạp chí này đều ở nước ngoài nhưng tùy theo ngành, trong nước cũng có thể từng bước xây dựng những tạp chí như vậy, với sự tham gia của các nhà nghiên cứu nước ngoài (hoặc người Việt Nam ở nước ngoài) trong ban biên tập.
Việc tuyển chọn nghiên cứu sinh có thể linh hoạt nhưng phải có cơ chế kiểm tra năng lực. Ở Nhật nhiều đại học chú trọng kiểm tra đầu vào qua kỳ thi ngoại ngữ và chuyên môn và quy định phải lấy đủ các tín chỉ cần thiết. Có đại học, nhất là những nơi có khoa tổng hợp nhiều ngành, thì chú trọng thi ngoại ngữ và đánh giá luận án thạc sĩ thay cho kiểm tra năng lực chuyên môn. Nhiều đại học ở Mỹ thì dễ dãi đầu vào nhưng có chế độ kiểm tra gay gắt về chuyên môn và đề cương luận án trươc khi cho nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu để hòan thành và bảo vệ luận án.
Ở giai đoạn này (đầu năm 2008), nhận thức của nhà nước về vấn đề đào tạo bậc tiến sĩ đã có vài mặt tiến bộ. Tuy nhiên một số vấn đề cơ bản chưa được hiểu một cách đúng đắn. Trên đây là 4 vấn đề tôi thấy cần bàn thêm ở giai đoạn này.
Ông Trần Văn Thọ sinh năm 1949 tại Quảng Nam, năm 1967 sang Nhật Bản du học. Ông lấy được bằng tiến sĩ kinh tế tại Đại học Hitotsubashi, Tokyo. Ở lại Nhật, ông vào làm việc tại Trung tâm nghiên cứu kinh tế Nhật Bản, sau đó làm phó giáo sư, rồi giáo sư Đại học Obirin, Tokyo. Từ năm 2000 đến nay, ông làm giáo sư kinh tế Đại học Waseda, Tokyo.
Năm 1990, báo chí Nhật đưa tin lần đầu tiên có ba người nước ngoài được mời làm thành viên chuyên môn trong Hội đồng tư vấn kinh tế của thủ tướng Nhật, ông Thọ là một trong ba người đó. Ông ở cương vị này trong gần 10 năm, qua nhiều đời thủ tướng Nhật.

GS Trần Văn Thọ
Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản
http://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/danh-gia-luan-an-tien-si-the-nao-3396593.html?utm_source=home&utm_medium=box_giaoduc_home&utm_campaign=boxtracking







Thứ ba, 3/5/2016 | 07:00 GMT+7


GS Trần Văn Thọ: Quá nhiều nhận thức sai lầm về bằng tiến sĩ


Học tiến sĩ không phải để đào tạo nhà quản lý hoặc lãnh đạo; luận án tiến sĩ không nhằm nghiên cứu vấn đề thực tiễn áp dụng ngay cho việc phát triển kinh tế - xã hội.
Bài này tôi viết để đóng góp vào Đề án cải cách giáo dục Việt Nam do một số trí thức trong và ngoài nước thực hiện vào năm 2008. Toàn bộ nội dung của Đề án được đăng trên Thời đại mới số 13, tháng 3/2008.
gs-tran-van-tho-qua-nhieu-nhan-thuc-sai-lam-ve-bang-tien-si
GS Trần Văn Thọ.
Một số nhận thức sai lầm về bằng tiến sĩ:
1. Bằng tiến sĩ không phải nhằm đào tạo nhà quản lý hoặc lãnh đạo để cho phép nhà nước cấp kinh phí đi học tại chức lấy bằng tiến sĩ. Bằng tiến sĩ là bước cơ bản nhằm đào tạo đội ngũ khoa học có trình độ cao để phục vụ giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học.
2. Nghiên cứu sinh không cần phải có ý kiến mới để được nhận vào chương trình tiến sĩ, nhưng nghiên cứu sinh phải có đủ trình độ để từ quá trình học, nắm được phát triển lý thuyết cơ bản và kiểm chứng lý thuyết bằng thực tiễn trong ngành trên thế giới, từ đó biết được vấn đề gì đã được nghiên cứu và cái gì chưa được giải đáp và từ đó có đóng góp mới về mặt học thuật.
3. Luận án tiến sĩ không nhằm nghiên cứu một vấn đề thực tiễn áp dụng ngay cho việc phát triển xã hội, kinh tế như làm sao thu hút đầu tư nước ngoài, hoặc làm sao một địa phương có thể trồng lúa ba vụ. Luận án tiến sĩ phải có tính học thuật (academic), triển khai bằng ngôn ngữ khoa học, bằng những khung lý luận cơ bản trong ngành và gói ghém có phê phán tất cả lý luận, kết quả mà các công trình nghiên cứu trước đã đạt được liên quan đến đề tài của mình. Quan trọng nhất luận án phải có tính độc sáng (originality), đặt ra được những vấn đề mới, đưa ra được những giả thuyết hay lý luận mới và kiểm chứng bằng những tư liệu mới.
Từ những nhận định trên bài viết bàn về yêu cầu thẩm định lại trình độ của giáo sư hướng dẫn, và các trường, viện đào tạo hiện nay, chấm dứt ngay những cơ sở không có tư cách cấp bằng.
Một trong những căn bệnh trầm trọng mà chế độ giáo dục đào tạo của Việt Nam trong mấy mươi năm qua gây ra cho xã hội ta là làm lạm phát văn bằng tiến sĩ, là đưa chuẩn mực của học vị cao nhất trong khoa học này xuống mức thấp ngoài sự tưởng tượng của người làm khoa học nghiêm túc. Nhiều người, kể cả người viết bài nầy, đã cảnh báo, phê phán vấn đề này từ rất sớm và đã có nhiều đề nghị cải cách rất cụ thể và khả thi. Thế nhưng vấn đề này không được cấp lãnh đạo cao nhất quan tâm, còn các cơ quan quản lý trực tiếp, chủ yếu là Bộ Giáo dục và Đào tạo, thì hầu như bất lực.
Gần đây nhà nước có vẻ đã thấy không thể không hành động trước tình trạng đã quá trầm trọng. Cụ thể là vào tháng 1/2008 Bộ Giáo dục đã công bố bản Dự thảo quy chế đào tạo tiến sĩ (dưới đây gọi tắt là Dự thảo). Đây là lần đầu tiên vấn đề đào tạo tiến sĩ được đặt ra tương đối nghiêm túc. Tuy nhiên, nội dung Dự thảo có nhiều điểm không khả thi, và nhiều điểm cho thấy người đặt chính sách chưa hiểu đúng ý nghĩa của việc đào tạo bậc tiến sĩ và yêu cầu của luận án tiến sĩ.
Mặt khác, Dự thảo chủ yếu nói đến việc xây dựng quy chế cho những cơ sở đào tạo mới và không đề cập đến việc xử lý những văn bằng tiến sĩ sản sinh trong quá trình vàng thau lẫn lộn vừa qua, cũng như không nói rõ vấn đề cải tổ, thanh lọc những cơ sở đào tạo ra đời trong bối cảnh bê bối hàng chục năm qua. Vì đã có nhiều dịp phát biểu ý kiến về vấn đề đào tạo và cấp bằng tiến sĩ, dưới đây tôi chỉ nêu lại một số vấn đề xét thấy cần đặt lại hoặc viết thêm trong giai đoạn hiện nay:
Mục tiêu đào tạo tiến sĩ là gì?
Thế nào là một luận án tiến sĩ?
Tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn và cơ sở đào tạo tiến sĩ.
Việc đánh giá và cấp bằng tiến sĩ nên làm như thế nào?
Mục tiêu đào tạo tiến sĩ là gì?
Trong kế hoạch đào tạo 20.000 tiến sĩ (đến năm 2020), suy nghĩ của người làm kế hoạch khá đơn giản và không thực tế. Ngoài tính bất khả thi, ta thấy nhà nước có suy nghĩ rất đơn giản, để phục vụ nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần phải có một đội ngũ những nhà khoa học, cụ thể là đội ngũ của những người có học vị tiến sĩ. Không biết từ bao giờ đã có một quan niệm sai lầm rằng bất cứ người làm trong ngành nào, kể cả quan chức và những nhà lãnh đạo doanh nghiệp, người có học vị càng cao càng “lãnh đạo” giỏi.
Do quan niệm sai lầm này, nhà nước đã cấp kinh phí cho quan chức đi học (làm nghiên cứu sinh) tại chức để lấy bằng tiến sĩ, và xem văn bằng này là một trong những tiêu chuẩn để đề bạt lên chức vụ cao hơn. Do vậy quan chức tranh nhau đi học để lấy bằng và nạn học giả lấy bằng thật trở thành phổ biến. Quan điểm và chính sách này đã làm lãng phí nguồn lực xã hội và gây ra nạn lạm phát văn bằng tiến sĩ. Quan niệm sai lầm và chính sách chạy theo số lượng trong khi các tiền đề xây dựng cơ sở đào tạo chưa được xác lập đã hạ thấp (một cách kinh khủng) chuẩn mực văn bằng tiến sĩ là hệ quả đương nhiên.
Do đó hơn bao giờ hết cần xác định mục tiêu đào tạo tiến sĩ. Đó là tạo ra một đội ngũ khoa học có trình độ cao để phục vụ giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học có thể được thực hiện ở đại học hoặc các viện nghiên cứu của cơ quan nhà nước hoặc của doanh nghiệp (nhất là nghiên cứu ứng dụng), nhưng người thuần tuý quản lý doanh nhgiệp hoặc quản lý hành chánh không cần văn bằng tiến sĩ. Dĩ nhiên có trường hợp một số quan chức hoặc lãnh đạo doanh nghiệp có bằng tiến sĩ.
Đó là trường hợp những người nguyên đã có dự định theo con đường nghiên cứu hoặc giảng dạy ở đại học nhưng sau đó tìm thấy khả năng của mình ở lãnh vực quản lý doanh nghiệp hoặc nhà nước. Cũng có trường hợp họ không thành công trong dự định ban đầu. Ở Nhật hay ở Mỹ người có bằng tiến sĩ khó tìm việc ở cơ qụan hành chánh nhà nước hoặc doanh nghiiệp hơn là người chỉ có bằng đại học (dĩ nhiên trừ trường hợp xin vào các viện nghiên cứu của doanh nghiệp hoặc của nhà nước).
Thế nào là một luận án tiến sĩ?  
Mới đây Bộ trưởng Giáo dục tuyên bố một câu được báo chí nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Nếu không tìm được vấn đề gì mới thì đừng đi học tiến sĩ”. Tôi ghi nhận chủ ý tích cực của câu tuyên bố này. Bối cảnh của tuyên bố này là tình trạng có nhiều luận án tiến sĩ chỉ là sự sao chép hoặc tổng kết các nghiên cứu của người khác và cần phải chấm dứt tình trạng này. Nhưng câu tuyên bố này khó hiểu đối với người làm khoa học, nhất là đối với người phụ trách đào tạo tiến sĩ nghiêm túc.
Ta có thể đặt lại vài câu hỏi sau: Thứ nhất, một người định thi vào bậc tiến sĩ (thi làm nghiên cứu sinh) có cần phải có sẵn một đề tài mới? Hay là đề tài mới chỉ được phát hiện trong quá trình học tập vất vả, phải biết vấn đề gì đã được nghiên cứu và cái gì chưa được giải đáp? Thứ hai, thế nào là “mới”? Có thể là mới trong một thực tiễn nào đó nhưng chẳng có ý nghĩa gì đối với khoa học. Chẳng hạn, làm sao để huy động vốn trong dân ở tỉnh A hay tại một thành phố B có thể là mới vì chưa ai nghiên cứu vấn đề cụ thể này nhưng đề tài tự nó chưa nêu ra được điểm gì mới về học thuật. Cần nói thêm là các đề tài luận án tiến sĩ kinh tế trong hơn 10 năm qua ở Việt Nam phần lớn có tính cách thưc tiễn và thiếu tính học thuật như vậy. Tôi đã víết khá chi tiết về điểm này trên Tia sáng (9/2003). 
Vậy trình độ của người được cấp bằng và chuẩn mực khách quan của luận án tiến sĩ là gì? Tiến sĩ là học vị cao nhất trong khoa học. Người được cấp bằng tiến sĩ do đó phải am hiểu các lý luận cơ bản, các khung phân tích trong ngành mình và nắm vững các khái niệm, các khung phân tích, các lý luận và những tiến triển nghiên cứu mới trong ngành chuyên môn hẹp của mình. Những kiến thức cơ bản này được trang bị từ các cấp bậc đại học và thạc sĩ, nhưng ở bậc tiến sĩ phải được tiếp tục ở trình độ cao hơn và nhất là phải có cơ chế kiểm tra nghiêm túc để bảo đảm cho ứng cử viên học vị này hội đủ các điều kiện đó.
Trình độ của ứng cử viên tiến sĩ được thử thách và được nhân lên trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận án tiến sĩ. Ngoài tính khoa học, logic tất nhiên phải có, một luận án tiến sĩ phải có hai tính chất quan trọng. Thứ nhất là tính học thuật (academic) trong đó vấn đề phải được triển khai bằng ngôn ngữ khoa học, bằng những khung lý luận cơ bản trong ngành và gói ghém có phê phán tất cả các lý luận, các kết quả mà các công trình nghiên cứu trước đã đạt được liên quan đến đề tài của mình. Thứ hai là tính độc sáng (originality), luận án phải đặt ra được những vấn đề mới, đưa ra được những giả thuyết hay lý luận mới và kiểm chứng bằng những tư liệu mới. Cái “mới” trong khoa học là như vậy.
Cần nói thêm rằng đòi hỏi chính của luận án tiến sĩ là sự đóng góp về mặt lý luận và luận án là bằng chứng cho thấy ứng cử viên tiến sĩ có trình độ nghiên cứu độc lập, chứ không đòi hỏi phải giải quyết một vấn đề thực tế (dĩ nhiên nếu kết quả nghiên cứu góp phần giải quyết một vấn đề thực tiễn thì càng tốt nhưng đó là thứ yếu). Sau khi lấy bằng tiến sĩ, tùy theo nhu cầu công tác lúc đó mới cần nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Tại Việt Nam, chí ít là trong lãnh vực kinh tế, hình như đa số hiểu sai về ý nghĩa của luận án tiến sĩ. Các đề tài của một luận án tiến sĩ kinh tế học ở Việt Nam thường là "Những giải pháp để…” (chẳng hạn, những giải pháp để thu hút đầu tư nước ngoài phục vụ chiến lược công nghiệp hoá). Những vấn đề này dĩ nhiên có thể được chọn là đối tượng nghiên cứu nhưng đó chỉ là trường hợp được chọn để kiểm chứng một vần đề có tính cách lý luận chứ không phải nhằm để giải quyết một vấn đề thực tế.
Ở Việt Nam, được biết nhiều đề tài cấp nhà nước, cấp bộ tốn hàng tỷ đồng và huy động hàng chục nhà nghiên cứu nhưng ít có công trình trực tiếp giải quyết vấn đề thực tiễn mà tại sao lại kỳ vọng ở công trình của một nghiên cứu sinh? Các đề tài này chẳng nêu ra được những câu hỏi có tính lý luận nên chẳng có giá trị về mặt học thuật, và về mặt thực tế cũng chẳng thấy cơ quan nào của nhà nước đã tham khảo các luận án ấy. Thật ra một người tốt nghiệp đại học thuộc loại giỏi chỉ cần vài tháng là có thể hoàn thành một bản báo cáo về những đề tài như vậy. Trong thời gian qua ở nước ta các bản báo cáo như vậy vẫn được gọi là luận án tiến sĩ. Chất lượng tiến sĩ ở Việt Nam quá thấp là vì vậy.
Cũng do quan niệm sai lầm ở Việt Nam về việc “ép” nghiên cứu sinh phải chọn một đề tài về mới về thực tiễn (dù không có giá trị về học thuật) mà trong quá khứ một số đề tài liên quan đến an ninh, quốc phòng, được phép bảo vệ không công khai. Bản Dự thảo nói trên cũng có quy định về những trường hợp không công khai việc bảo vệ luận án tiến sĩ.
Theo tôi, mọi luận án tiến sĩ đều phải được công khai. Nếu vì an ninh hoặc quốc phòng thì không cho nghiên cứu sinh chọn những đề tài như vậy. Như đã nói ở trên, mục tiêu đào tạo tiến sĩ là xây dựng những con người khoa học có trình độ nghiên cứu độc lập và đảm trách việc giáo dục đại học chứ không phải là nhằm nghiên cứu một vấn đề thực tiễn áp dụng ngay cho việc phát triển xã hội, kinh tế. Những đề tài thực tiễn và cấp thiết như vậy thì nên giao cho người đã có khả năng nghiên cứu độc lập, kể cả người đã lấy bằng tiến sĩ.
Ông Trần Văn Thọ sinh năm 1949 tại Quảng Nam, năm 1967 sang Nhật Bản du học. Ông lấy được bằng tiến sĩ kinh tế tại Đại học Hitotsubashi, Tokyo. Ở lại Nhật, ông vào làm việc tại Trung tâm nghiên cứu kinh tế Nhật Bản, sau đó làm phó giáo sư, rồi giáo sư Đại học Obirin, Tokyo. Từ năm 2000 đến nay, ông làm giáo sư kinh tế Đại học Waseda, Tokyo.
Năm 1990, báo chí Nhật đưa tin lần đầu tiên có ba người nước ngoài được mời làm thành viên chuyên môn trong Hội đồng tư vấn kinh tế của thủ tướng Nhật, ông Thọ là một trong ba người đó. Ông ở cương vị này trong gần 10 năm, qua nhiều đời thủ tướng Nhật.
GS Trần Văn Thọ
Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản