Hiển thị các bài đăng có nhãn làng-báo-Việt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn làng-báo-Việt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2016

Sự khác biệt trong cách dạy con của Hoàng gia Nhật và "gia đình có điều kiện" Trung Quốc

Giả sử thay "gia đình có điều kiện Việt Nam" vào chỗ "gia đình có điều kiện Trung Quốc" thì có lẽ vẫn đúng.

Nhiều điều muốn nói về Việt Nam, gần đây, tựa như hay được nói tránh đi thành Trung Quốc. Một lối uyển ngữ hóa của báo chí Việt hiện nay.


Bài trên VNN.


---



Sự khác biệt trong cách dạy con của Hoàng gia Nhật và "gia đình có điều kiện" Trung Quốc


Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên khi nhận ra sự khác biệt một trời một vực giữa cách dạy con của Hoàng gia Nhật Bản và phương pháp giáo dục của nhiều "gia đình có điều kiện" ở Trung Quốc.
Người ta vẫn nói, Nhật Bản là một đất nước thần kỳ với những quan niệm đi ngược hẳn lại với nhiều quốc gia khác trên thế giới. Có lẽ chính sự khác biệt ấy đã khiến một đất nước ít tài nguyên và hay gặp thiên tai như Nhật Bản phát triển được như ngày hôm nay.
Không giống với các bậc phụ huynh ở nhiều quốc gia châu Á khác, đặc biệt là những gia đình nhiều tiền lắm của, lúc nào cũng nâng niu bao bọc con cái như bảo vật, người Nhật lại có những phương pháp dạy con vô cùng đặc biệt để con có thể tự lập ngay từ khi còn bé.
Vậy các đại gia ở đất nước mặt trời mọc dạy con như thế nào nhỉ? Hãy nhìn vào cách Hoàng gia Nhật, biểu tượng của quyền lực và sự vinh hoa phú quý ở nước này dạy Công chúa Aiko, con gái của Hoàng Thái tử nên người và so sánh với phương pháp giáo dục của một gia đình thuộc dạng có điều kiện bất kỳ ở Trung Quốc, chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên đấy!
1. Tính tự lập
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản 

Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản 

Người ta có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh Công chúa Aiko tự đeo cặp sách hay tự cầm ô tung tăng bước vào cổng trường. Nhiều người không khỏi thắc mắc, đường đường là Công chúa của một đất nước, vậy mà khi đến trường lại phải tự đeo cặp sách trên vai ư? Thế mấy ông vệ sĩ đi theo để làm gì nhỉ? Một người có thân phận cao quý như Công chúa với cả đám tùy tùng theo hầu đằng sau thì không nên làm những việc nhỏ nhặt này mới phải chứ!
Tuy nhiên, đối với người Nhật, gây phiền phức cho những người xung quanh là một việc không nên, vì vậy, trẻ em Nhật ngay từ nhỏ đã được giáo dục phải tự làm những việc của mình, tránh làm ảnh hưởng đến người khác, cho dù chỉ là việc nhỏ nhặt nhất như đeo cặp sách đến trường.
Trong khi đó, tại Trung Quốc, hàng ngày người ta đều được chứng kiến cảnh tượng những người già che ô hay cầm cặp sách cho con cháu mỗi khi đến trường. Chính sự bao bọc thái quá của các bậc phụ huynh nước này đã tạo cho lũ trẻ thói quen sống ỷ lại, dựa dẫm vào người lớn.
2. Con đường đến trường
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Gia đình Hoàng Thái tử Nhật cho rằng, việc đưa đón Công chúa đi học sẽ hình thành lối suy nghĩ "mình là số 1, mình là người được ưu tiên" trong tâm hồn trẻ thơ và kéo giãn khoảng cách giữa Công chúa với các bạn cùng trang lứa, gây ra những ảnh hưởng không tốt tới việc hình thành nhân cách của cô bé.
Chính vì vậy, Công chúa sẽ không được đưa tới tận cổng trường mà chỉ đi đến một khu vực gần trường học rồi tự đi bộ vào lớp. Người dân Nhật không mấy ngạc nhiên khi thấy Công chúa nước mình cuống quýt chạy vào trường cho kịp giờ lên lớp, đây cũng là một minh chứng cho thói quen làm mọi việc cực kỳ đúng giờ của người dân xứ Phù Tang.
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Còn tại Trung Quốc, mỗi giờ vào lớp hay tan học, những khu vực gần cổng trường luôn trong tình trạng tắc nghẽn, bởi có hàng đoàn xe của các vị phụ huynh đang nối đuôi nhau chờ đưa đón con mình. Theo những vị phụ huynh này, để con cái tự mình đi đến trường là một việc làm nguy hiểm, đồng thời vì muốn con mình "mưa không đến mặt, nắng chẳng đến đầu", thế nên họ chỉ có thể yên tâm khi tự mình đưa đón con đi học. Lâu dần, những đứa trẻ được bố mẹ đưa đón mỗi ngày sẽ có sự so sánh với các bạn khác cùng cảnh ngộ và hình thành suy nghĩ: phải được đưa đón bằng xe đẹp, nếu không sẽ trở thành trò cười cho những người xung quanh.
3. Bồi dưỡng năng khiếu
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Người Nhật cực kỳ chú trọng việc bồi dưỡng năng khiếu và phát triển tiềm năng cho con trẻ. Các thầy cô giáo ở Nhật sẽ tìm cách khuyến khích học sinh của mình tham gia vào những câu lạc bộ phù hợp với khả năng. Có lẽ người dân nước này đều biết, Công chúa của mình rất chăm chỉ luyện thư pháp mỗi khi có thời gian rảnh rỗi, thay vì cắm cúi vào những thú vui vô bổ như nhiều vị tiểu thư đài các trên thế giới.
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Trong khi đó, tại Trung Quốc, đa số các bậc phụ huynh lại luôn muốn ép con cái phát triển toàn diện về mọi mặt, khiến cho lũ trẻ rơi vào trạng thái học hành quá tải. Tuy nhiên, không giống như người Nhật, sau giờ học thường hướng con trẻ vào những hoạt động bổ ích cho trẻ thơ hoặc rèn giũa bản thân, người Trung Quốc lại để con cái tự do vui chơi và làm những việc mình thích, kể cả việc ngồi dán mắt vào màn hình chơi game suốt ngày.
4. Sự quan tâm từ phía gia đình
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Trong hầu hết các gia đình giàu có tại Trung Quốc, bố mẹ quanh năm suốt tháng chỉ biết cắm cúi kiếm tiền hay dành phần lớn thời gian cho những cuộc gặp xã giao mà thờ ơ với con cái, bởi vì rất nhiều người cho rằng, chỉ cần chu cấp thật nhiều tiền là lũ trẻ có thể sống một cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc.
Còn trong gia đình Hoàng gia Nhật, cho dù phải đối mặt với trăm công nghìn việc mỗi ngày, Thái tử và Thái tử phi vẫn luôn cố gắng dành thời gian bên con trong những cột mốc quan trọng của cuộc đời cô bé, cùng con trưởng thành. Họ không bao giờ vắng mặt trong các buổi lễ khai giảng, các buổi họp phụ huynh, các buổi lễ tốt nghiệp, hay thậm chí là đại hội thể thao của con gái. Có lẽ họ hiểu được rằng, sự yêu thương, quan tâm phải xuất phát từ trái tim chứ không phải cứ dùng tiền là mua được.
5. Đặc quyền trong bữa ăn trưa ở trường
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Chắc chắn mọi người đều nghĩ rằng cơm trưa của Công chúa sẽ toàn là những món sơn hào hải vị, khác xa so với bữa ăn của các học sinh bình thường. Thế nhưng, sự thật là mỗi ngày Aiko đều mang theo cơm hộp do mẹ chuẩn bị, gồm toàn những món ăn bình dân quen thuộc của người Nhật. Ngay cả khi xuất thân trong gia đình danh giá, Aiko cũng sống một cuộc sống vô cùng giản dị.
Trong khi đó, những gia đình giàu có ở Trung Quốc lại luôn muốn con mình phải được đối xử thật đặc biệt, và họ chứng minh "đẳng cấp" bằng cách không tiếc tiền cho con mua những bữa ăn đắt tiền mà các bạn học bình thường chỉ có thể nhìn ngắm từ xa.
6. Công chúa cũng cần phải lễ phép giống như mọi người
Nhắc đến Hoàng gia, người ta sẽ nghĩ ngay đến quyền lực, và tất nhiên, ai cũng cho rằng đi kèm với thế lực sẽ là những đặc quyền mà những người thường dân ao ước cả đời cũng chẳng thể có được. Tuy nhiên, khác với suy nghĩ của nhiều người, Công chúa Nhật Bản không hề làm ra vẻ cao ngạo hay tỏ thái độ của bậc "bề trên".
Cũng giống như bao đứa trẻ khác ở Nhật, Công chúa Aiko được dạy dỗ cách cư xử theo đúng phép tắc và luôn giữ lễ nghĩa trong mọi hoàn cảnh. Thậm chí, Công chúa Aiko cho rằng, càng có thân phận cao quý thì lại càng phải lễ phép, bởi vì cô phải trở thành một tấm gương sáng cho người dân Nhật Bản noi theo.
Ngược lại, rất nhiều "cậu ấm cô chiêu" ở Trung Quốc lại tự cho mình đặc quyền của một ông hoàng và luôn tỏ ra khinh thường những người không cùng "đẳng cấp" với mình. Có lẽ, đối với những đứa trẻ con nhà giàu này, có tiền là có tất cả.
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Chính nhờ nền giáo dục khắt khe và khiêm nhường trên mà đất nước Nhật Bản mới phát triển được như ngày hôm nay và trở thành niềm ước ao của biết bao người. Lối sống giản dị của Công chúa Aiko là sự phản ánh chân thực nhất về Hoàng gia Nhật Bản và có lẽ đây chính là nguyên nhân khiến cho người dân đất nước mặt trời mọc cực kỳ ủng hộ Thiên hoàng và chế độ Quân chủ lập hiến đã tồn tại suốt bao nhiêu năm qua ở xứ sở của mình.
(Theo Trithuctre)

http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/294345/su-khac-biet-trong-cach-day-con-cua-hoang-gia-nhat-va-gia-dinh-co-dieu-kien-trung-quoc.html

Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2016

Những người bị lãng quên : Nguyễn Trọng Phấn (qua giới thiệu của Kiều Mai Sơn)

Thật ra tập bản thảo cũ làm nền cho cuốn sách dịch được giới thiệu, mà Nguyễn Trọng Phấn là dịch giả, ở dưới đây, vừa được in ra, tôi đã không sử dụng cho một cuốn sách cách đây 6 năm về trước. Cuốn mà Vương Trí Nhàn nhắc tới ở entry này.

Lí do rất đơn giản: bản dịch đó là phóng tác. Nên chúng tôi quyết định tạm gác lại chưa dùng đến tập bản thảo ấy (cắt ra từ báo xuất bản trước năm 1945).

Bây giờ, người ta đem tập báo cắt ấy mà xuất bản thành sách.

Dưới là lời giới thiệu, dạng báo chí, của Kiều Mai Sơn.


Lấy từ Fb KMS.

---

"



Son Kieu Maiさんが写真2件を追加しました。
THỜI CỦA ĐẠI TRÍ THỨC THÀNH ĂN MÀY

Trong Toạ đàm giới thiệu sách Xã hội Việt Nam từ thế kỷ 17; tôi chỉ nói về Nội dung của cuốn sách mà ít nói về cuộc đời riêng của Học giả Nguyễn Trọng Phấn. 
Nguyễn Trọng Phấn (1910-1996), quê làng Lại Yên, Hoài Đức, Hà Đông. Ông là sản phẩm của nền giáo dục Pháp - Việt, là thế hệ trí thức tinh hoa của Việt Nam. 
Ông Phán Phấn - người quê hương vẫn thường tự hào về ông như vậy. Vì, ông là người có bằng cấp cao nhất làng thời Pháp thuộc. Đã làm công chức tới ông Tham, ông Phán; đã được cử sang tận Phnompenh để làm việc và ông còn làm thủ lĩnh của Hội Tam Điểm ở thủ đô của Cambodia những năm đầu 1940.
Ông vinh dự được làm việc tại Viễn Đông Bác Cổ tại Việt Nam cùng những nhà trí thức Nguyễn Văn Huyên; Nguyễn Văn Tố; Trần Hàm Tấn; Nguyễn Thiệu Lâu... (Cụ Trần Hàm Tấn sau này trở thành ông từ giữ đền Lý Quốc Sư. Nghe tôi kể đến đây thì Nhà dân tộc học Nguyễn Mạnh Tiến cứ mồm chữ O, miệng chữ A: thế à? Thế à? Một đại trí thức cỡ như Trần Hàm Tấn mà lại bị đối xử như vậy sao?).
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Nguyễn Trọng Phấn làm việc tại Bộ Giáo dục; rồi Thư viện Khoa học Xã hội Trung ương cho đến khi nghỉ hưu.
Cuối đời, người ta thường thấy ông trong hình ảnh một ông già cao lớn luôn khoác bên mình cái bị (mà trong đấy là sách); họ tưởng đó là ông già đi ăn mày. 
Khi tôi vào tuổi mười tám, đôi mươi, đã nhiều lần được nghe nhà văn Sơn Tùng kể chuyện về sự uyên bác của cụ Nguyễn Trọng Phấn khi cụ vô tình gặp gỡ và trò chuyện với người nước ngoài tại Văn Miếu hoặc Bờ Hồ (nhà văn Thiên Sơn; nhà báo Từ Khôi là những bậc đàn anh có nhiều năm được hầu chuyện cụ Phấn hẳn cũng rõ chuyện này).
Phó Chủ tịch - TTK Hội KHLS Việt Nam Dương Trung Quốc gọi Nguyễn Trọng Phấn là người thuộc THẾ HỆ VÀNG, người ẩn danh của thế hệ ấy, và mẹ ông gọi cụ là NGƯỜI DANH GIÁ.
Tôi thử đặt ra một cách định danh mới, Nguyễn Trọng Phấn là người thuộc thế hệ ĐẠI TRÍ THỨC TRỞ THÀNH ĂN MÀY, liệu có cực đoan không?
Cuối cùng, xin kể câu chuyện, tại sao chúng tôi gọi Học giả Nguyễn Trọng Phấn.
Ban đầu, tôi muốn dùng Dịch giả để gắn với bản dịch sách này. Nhưng đây chỉ là những phần dịch thuật có chọn lọc. Ông Long Ngo The nói sử dụng như thế chưa chính xác. 
Gọi là Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Phấn. Đúng, vì ông làm nghiên cứu tại Viễn Đông Bác Cổ Pháp kia mà (chắc so sánh với Nghiên cứu viên cao cấp của ta bây giờ thì...).
Gọi là Nhà báo. Đúng. Ông viết báo Thanh Nghị suốt 5 năm.
Gọi ông là nhà giáo. Đúng. Ông là thầy dạy Địa lý tại Khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc), với sự hiện diện của Gs Nguyễn Lân Dũng và Ts Nguyễn Giang Tiến là học trò tại Toạ đàm. 
Ông là Nhà thư viện học...
(Nhiều nhà quá; lúc đó tôi nhìn xuống dãy ghế đầu tiên, có Gs Nguyễn Lân Dũng và chợt nhớ đến cái card của ông).
Chúng tội gọi Nguyễn Trọng Phấn là Học giả theo đúng với những đóng góp của ông cho ngành KHXH./.
(Ảnh: Thằng tôi đang trình bày nội dung cuốn sách tại Toạ đàm theo lệnh của ông Nguyen Manh Son. 
Kể ra trông tôi cũng giống cái viền bìa sách phết ông Trần Ban nhể?)
- Pê-ét: Những cuộc Toạ đàm mang lại tri thức và giá trị học thuật này thường vắng bóng các phóng viên. Họ thường xúm đông xúm đỏ ở chỗ xi-lip hoặc xu-chiêng tân thời! (Thô tí nhưng mà thật. Tính xoá câu này vì đụng chạm nhưng cứ để lại vì nó sẽ là ý tưởng cho nội dung một bài viết sau này. Xoá xong là lần sau đố mà nhớ được đã viết câu này).


Son Kieu Maiさんの写真

Son Kieu Maiさんの写真
いいね!
コメントする
コメント1件
コメント
Từ Khôi cụ Nguyễn Trọng Phấn, cụ Phí Văn Bái, cụ Đào Phan (em ruột cụ Đào Duy Anh)... là những trí thức lớn và những nhà cách mạng lão thành mà tôi có hân hạnh ko chỉ được gặp mà còn được các cụ cho ngồi hóng chuyện ở chiếu Văn Sơn Tùng. Thế mà đã hai mấy năm trời trôi qua... Son Kieu Mai tuy trẻ, có thể lại chưa từng gặp cụ Phấn lúc sinh thời nhưng được hầu chuyện các cụ sau này đã cảm niệm nhiều về sự uyên bác của cụ Phấn thì rất đáng hoan nghênh. Nước Nam ta sao cứ dần mai một đi những người tài mang dáng điệu giản dị như cụ Phấn như thế?. Ngậm ngùi
いいね!返信
"

https://www.facebook.com/son.kieumai/posts/536189769900688

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2016

Văn nghệ Thứ Bảy : Đã có thời “Hà Nội lầm than”

Hà Nội của thời 1930 - 1954. Dưới ngòi bút của cây phóng sự xuất sắc thời đó là Trọng Lang, tức Trần Tán Cửu.


Bài cũ, của tác giả Mai Anh Tuấn, lấy về Tia Sáng.


---



04:21-18/09/2015 



Mai Anh Tuấn

Hà Nội lầm than của Trọng Lang đương nhiên khác với Hà Nội băm sáu phố phường của Thạch Lam. Sự khác biệt ấy không mang lại một vị trí văn học sử đáng kể cho Trọng Lang trong hệ thống sách giáo khoa, giáo trình văn chương khi đề cập đến các cây bút phóng sự có thành tựu giai đoạn 1930 – 1945. Dường như người ta đã phớt lờ Trọng Lang và vì thế, trong trí nhớ và sự tìm đọc của công chúng hiện nay, Trọng Lang khá mờ nhạt.

Một góc nhìn riêng
Hà Nội lầm than (1938)1 có thể coi là thiên phóng sự đặc sắc và được nhắc đến nhiều nhất của Trọng Lang và cho đến hôm nay, sẽ vẫn nằm trong số những diễn ngôn đáng chú ý nhất về mảnh đất này ở giai đoạn nó bị/được bao trùm không khí Âu hóa đa sắc thái.


Hà Nội lầm than là Hà Nội của giai tầng dưới đáy, của những hạng người và hạng nghề nghiệp từng bị đặt trong sự dè bỉu, coi thường của đám đông xã hội. Trong vai một tay chơi có máu điều tra, Trọng Lang đã lần lượt chứng kiến và tái dựng nguyên trạng tình cảnh của những phụ nữ “nô lệ tạm thời” tại các quán bar, tiệm nhảy, nhà thổ…, nơi lui tới thường xuyên của tầng lớp giàu có và ưa thích thú vui xác thịt. Những nhân vật cụ thể được tiếp cận; các mánh khóe buôn da bán thịt được phơi bày; thói thực dụng tiền bạc được liệt kê; những ngóc ngách thân phận được chi tiết tường tận; những tàn tạ, nhếch nhác nhân hình được đặc tả…, tất cả, như vết chàm vô phương cứu chữa, đã là bằng cứ thuyết phục cho đời sống đô thị ở khía cạnh thị trường hóa, hàng hóa hóa len vào mọi nơi chốn, mọi mối quan hệ.


Cố gắng giữ điềm tĩnh nhưng không ít lần, Trọng Lang đã phải thừa nhận sự bất lực trong việc miêu tả “những nỗi thống khổ ê chề của một hạng nô lệ cho xác thịt”, phải gay gắt mỉa mai thay vì cảm thương những nhà thổ “ô uế cực kì, một chỗ để chứng rằng tâm hồn, xác thịt của một đám đàn bà trụy lạc đã thối nát đến bực nào”, hay đám “nhà thổ đực” – “một cái nhục rất đau đớn cho người ‘có râu’”…


Trong khi đẩy cao cảm giác bi phẫn, Trọng Lang đã dừng lại rất lâu ở sự phi lí, ngang trái của những biến đổi văn hóa (chẳng hạn, cô đầu khi xưa là “một cái thú nên thơ” nhưng giờ chỉ là trò mua vui giả dối), những tai ương, bệnh tật, khổ ải đổ xuống bất kì ai trong chốn ăn chơi và sau cùng, những thực tế khó lường của nếp sinh hoạt tiểu nông đang bị tha hóa khi xuất hiện “hạng ăn mày không đói, không rách, có khi sang trọng hơn người viết bài này, có tên là ‘tụi secours’, đi ăn xin nói bằng tiếng Pháp để lấy tiền bao gái và hút thuốc phiện”.


Không chịu im tiếng, người quan sát-tác giả đã tham gia vào các màn đối thoại sinh động, đã khéo léo huy động các tiếng lóng, “từ chuyên môn” và sắc sảo nhất là những so sánh tạt ngang để khóa chặt đối tượng trong không gian tương ứng (“Như chim sơn ca, buồn bã, với tiếng gọi của rừng núi rộng, các cô sống theo tiếng gọi của đàn tâm có trăm ngàn điệu”; “Nếu tất cả những nhà thổ có thể ví được là những miếng thịt trâu ngâm nước, thì ả này là một miếng bạc nhạc, bụng nhụng mà người đồ tể thường cắt vất đi cho chó ăn, và đã rữa ra rồi…”; “Ông khách đó là một mẩu người tủn hoẳn, vừa gầy vừa xanh, quần áo xốc xếch, ngực bó cao, ống quần hẹp”…). Đằng sau các thủ pháp viết lách linh hoạt, Hà Nội lầm than có nhiều câu chuyện “có thể làm cho mặt trăng u ám đi được” vì mức độ tê tái, trắng phớ của nó.


Hà Nội lầm than đương nhiên khác với Hà Nội băm sáu phố phường (1943) của Thạch Lam. Sự khác biệt ấy không mang lại một vị trí văn học sử đáng kể cho Trọng Lang trong hệ thống sách giáo khoa, giáo trình văn chương khi đề cập đến các cây bút phóng sự có thành tựu giai đoạn 1930 – 1945. Dường như người ta đã phớt lờ Trọng Lang và vì thế, trong trí nhớ và sự tìm đọc của công chúng hiện nay, Trọng Lang khá mờ nhạt, bắt đầu từ tiểu sử trở đi. Nhưng cần thiết nhớ rằng, Vũ Ngọc Phan, trong Nhà văn hiện đại, bằng khả năng chọn lọc nhanh nhạy của mình, đã giới thiệu Trọng Lang thật nồng nhiệt: “Trong số các nhà văn viết phóng sự gần đây, Trọng Lang có óc phê bình hơn cả. Văn ông đanh thép và sắc cạnh, chuyên về tả cảnh nhiều hơn tả tình”.

Tiếng kêu thương
Hà Nội lầm than, vào năm 1938, quả thật, đã khía rất sâu vào một trong những thực tế đang trương phình ở các đô thị thuộc địa: nạn mua bán dâm, sự phát triển thiếu kiểm soát của hệ thống nhà thổ, các địa điểm kinh doanh tình dục trá hình. Báo chí thời ấy đã không bỏ qua thực tế này, và theo nhiều cách khác nhau, lần lượt lên tiếng như một nỗ lực khảo tả kĩ càng hơn về vị thế người phụ nữ. Không phải ngẫu nhiên m�Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm, Phụ nữ tân tiến, Đàn bà mới,… là những tờ báo xông xáo theo đuổi vấn đề mại dâm và hầu hết đều coi đây là một vấn nạn xã hội cần bài trừ. Tờ Trung Bắc chủ nhật ra ngày 27/9/1942 cho biết năm 1938 có tới 216 nhà hát, gần 2.000 cô đầu ở vùng ngoại ô Hà Nội và nạn hoa liễu do các cô đầu gây ra lan nhanh đến mức không thể ngăn chặn. Cô đầu hay rộng hơn, gái mại dâm, là hình ảnh trung tâm của sự khó khăn, bế tắc, mâu thuẫn mà phụ nữ ở các đô thị rất dễ mắc phải bởi những cạm bẫy sinh kế liên tục bủa vây, trong khi khoảng cách giàu nghèo và địa vị hoặc sự nới lỏng đạo đức ngày một nhiều hơn.


Trong thiên phóng sự của mình, Trọng Lang không hoàn toàn đứng về phía bênh vực những cô đầu, gái nhảy, tầng lớp xét cho cùng là bị bóc lột, bị gạt ra rìa dù ông “đàng hoàng bước vào nhà thổ, với ngòi bút và lòng thương”. Về cơ bản, ông phê phán và liên tục chỉ ra thảm trạng bi đát mà họ đang chịu đựng. Với ông, nạn nhân cũng đồng thời là kẻ chủ ý chuốc lấy đau khổ vì đã tự mình lựa chọn một đời sống như vậy. Vì thế, nữ giới trong Hà Nội lầm than không đem lại thiện cảm nhan sắc, tính cách hay những nỗi niềm trắc ẩn số phận. Thái độ này không có nghĩa ông vô can với tha nhân mà trái lại, muốn tỉnh táo ghi chép, phân tích những tiếp nhận thiếu phản kháng từ lối sống chú mục hưởng lạc tai hại trong một đô thị trên đà hiện đại hóa như Hà Nội. Tính chất lưỡng phân của sợi dây đạo đức, vừa căm giận, khinh bỉ vừa xót xa, cảm thông đối với nghề mại dâm, trong trường hợp này, đã không thắt chặt được các ngả rẽ văn hóa của thị dân, nơi nhu cầu thuận mua vừa bán là hiển nhiên công khai. Trọng Lang kết thúc thiên phóng sự của mình trong sự vỡ lẽ rằng, chẳng có một giọt nước cam lồ nào đủ tưới hàng vạn người lầm than, còn bản thân thì lại thêm đau đớn. Khả năng dấn thân của một nhà văn, dù quyết liệt đến đâu, rút cuộc, cũng vẫn chỉ là “tiếng kêu thương”, hi vọng xã hội và chính thể thời điểm đó lắng nghe và thấu tỏ hơn mà thôi. 


Đọc Hà Nội lầm than để, bên cạnh những mĩ từ thanh lịch, hào hoa, hào hùng, văn hiến, cần thiết hiểu và cập nhật thêm một Hà Nội, xưa lẫn nay, không thiếu cơ cực, cam chịu và khuất lấp ngoài rìa muôn mặt nhân sinh. 


 
 Trọng Lang tên thật là Trần Tán Cửu, sinh năm 1906 tại Hà Nội trong một gia đình Nho học. Sau khi học xong bậc trung học, ông bắt đầu viết văn, viết báo, trở thành cây bút phóng sự thường xuyên trên các tờ Phong Hóa, Ngày Nay, Hà Nội tân văn… 

Sự nở rộ của phóng sự giai đoạn này, như ta thấy, đã được nuôi dưỡng bởi sự phát triển đa dạng của báo chí và nhất là một môi trường xã hội mà những vấn đề cấp bách, thời sự trong đó chưa bao giờ lắng xuống, “những điều trông thấy” chưa bao giờ tạm ngưng thúc giục, khiêu khích người cầm bút phải đối mặt trực tiếp, mô tả và lí giải nó. Đời sống nhân sinh từ đô thị đến nông thôn, với tất cả những biến đổi khốc liệt, dữ dội, trái khoáy và thậm chí, đầy bẽ bàng, cay đắng của nó, trong giai đoạn các lực xung va chạm giữa hai thế giới (cũ-mới, truyền thống-hiện đại, phong kiến-thực dân, Việt Nam - Pháp…) đạt đến cao trào, đã trở thành mảnh vỡ nguyên liệu để các ngòi bút phóng sự, vốn nhiệt huyết và sắc bén, giải phẫu một cách chi tiết. Khả năng xét nghiệm chân xác văn hóa đô thị của Vũ Trọng Phụng, mức độ lật tẩy kịp thời hủ tục làng xã của Ngô Tất Tố ởViệc làng, hay tài miêu tả chân thực của Tam Lang trong Tôi kéo xe…, về cơ bản, không chỉ làm đầy thêm các tri nhận về diện mạo, bản chất xã hội Việt Nam thuộc địa mà rõ ràng, còn thúc đẩy sự trưởng thành vượt bậc của thể phóng sự, của văn xuôi quốc ngữ. 

Giữa những tiếng nói nổi bật đó, Trọng Lang không hề bị mờ đi. Vì trước nhất, ông đã kiên trì theo đuổi nhiều đề tài gai góc như một cây bút ý thức rất cao trách nhiệm can dự xã hội của mình và thứ nữa, ông lựa chọn kênh phát ngôn chính yếu ở phóng sự, một loại hình lao động chữ nghĩa cần đến cả bản lĩnh và sự trung thực tận đáy. Phẩm chất đó, cùng với việc kịp đứng trong chiến tuyến của tinh thần duy tân sẵn sàng phê phán mọi đối tượng, đã giúp Trọng Lang hoàn thành văn nghiệp đáng kể của mình ngay trước 1945 với những Trong làng chạy; Đời bí mật của sư, vãi; Đồng bóng; Làm tiền; Với các ông lang; Làm dân; Thi vị đồng ruộng 

Năm 1954, Trọng Lang di cư vào Nam, tiếp tục hoạt động văn chương báo chí. 
Ông mất tại Sài Gòn ngày 29-4-1986. 


----------------------------

1 Ấn bản đầu do Đời Nay thực hiện năm 1938. Ấn bản 2015 do NXB Hội nhà văn và Nhã Nam thực hiện.