Hiển thị các bài đăng có nhãn lịch-sử-Việt-Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lịch-sử-Việt-Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2016

Bia Thủy Môn đình (khắc dựng năm 1670) mang hai chữ Việt Nam


Tạm sử dụng bài trên web Người Lao động,  Bảo tàng Lạng Sơn, và Vietnam Landmarks.

---


Bia Thủy Môn Đình- bản hùng ca đất nước


05/04/2003 00:00

LTS: Sau khi Báo NLĐ số 2674 (phát hành ngày 22-3) đăng bài Người đi tìm quốc hiệu Việt Nam, một số bạn đọc đã gọi điện đến tòa soạn, muốn biết thêm chi tiết về tấm bia biên giới Thủy Môn Đình, trong đó ngoài hai chữ Việt Nam còn nói đến “Trấn Bắc ải quan”. Nhà khoa học Nguyễn Phúc Giác Hải, người đã tìm ra tấm bia này, đã có bài viết riêng cho Báo NLĐ

Ước mơ:
Tôi hy vọng một ngày không xa, nhân dân thủ đô cũng như cả nước sẽ được nhìn thấy tận mắt tấm bia Thủy Môn Đình trong Viện Bảo tàng Lịch sử.
Tháng 4-1991, sau khi chúng tôi đăng bài Tên gọi Việt Nam có tự bao giờ? trên tạp chí Người đại biểu nhân dân trong đó nói là đã tìm thấy một số bia cổ từ thế kỷ 16 có hai chữ Việt Nam cho thấy tên gọi này không phải đến thời Nguyễn (1804) mới có. Tôi đã nhận được một nguồn tin cho biết thêm, ở biên giới Đồng Đăng (Lạng Sơn) cũng có một tấm bia, tuy niên đại muộn hơn (1670), có hai chữ Việt Nam. Người cho biết thông tin này là một chuyên viên của Bộ Ngoại giao. Ông cho biết, năm 1971, nhân dịp từ Nam Ninh về công tác ở Đồng Đăng, trong lúc cao bước ngắm phong cảnh Đồng Đăng, ông bất chợt phát hiện một tấm bia đá trong bụi rậm trên đồi, bên đường Quốc lộ 1 (phía Bắc) đi vào Đồng Đăng. Bia có tên Thủy Môn Đình, dựng năm Cảnh Trị bát niên (tức năm 1670), trên bia có bài Minh ghi rõ “Việt Nam hầu thiệt. Trấn Bắc ải quan”. Tôi có gặp ông để hỏi thêm chi tiết thì ông nói rằng trước đây ông không chú ý lắm tới hai chữ Việt Nam vì nghĩ rằng đó là tên nước đã có từ lâu, nhưng khi đọc bài viết của tôi, ông đã nhớ lại tấm bia này. Ông cũng nói là 20 năm qua, do cuộc chiến tranh biên giới, không rõ tấm bia này có còn không. Tôi đã đề nghị ông bố trí thời gian đi cùng lên biên giới nhưng ông tỏ ý rất tiếc vì phải đi công tác nước ngoài ngay.
Tấm bia nơi quan ải.- Nhận thấy đây là tấm bia có tầm quan trọng đặc biệt, tôi đã trao đổi với nhà sử học Dương Trung Quốc, lúc đó là Viện Phó Viện Sử học. Anh Quốc giới thiệu với tôi anh Nguyễn Minh Tường. Ngoài ra, tôi có mời thêm anh Hoàng Giáp, chuyên viên Viện Hán Nôm, chúng tôi  cùng đi Lạng Sơn. Bia được tìm thấy khá dày dặn, có bệ, cao hơn đầu người. Khi được phát hiện, bia nằm giấu kín trong đám bụi cây. Mặt lưng bia có ba chữ Thủy Môn Đình rất to. Thủy Môn Đình do quan Đô Tổng binh, Bắc quân Đô đốc phủ Lạng Sơn Nguyễn Đình Lộc soạn năm Cảnh Trị bách niên dưới thời Lê Trịnh. Mở đầu bia viết đại ý “ta nhờ tổ tông tích thiện, nên từ lúc còn trẻ đã được theo vua giết giặc lập công, được phong chức giữ nơi bờ cõi, cửa ngõ của sự bang giao, nơi hai nước có sứ giả đi lại và văn thư giao dịch. Nhờ gặp thời Hoàng Lê thịnh trị, vạn đẹp của Chúa, thu phục được “bát man”, được giao trọng  trách trông giữ miền quan ải, trách nhiệm nặng nề, vì thế lập bia để con cháu trông gương mà bắt chước, báo đền ơn vua, lộc nước”.
Ở giữa bia có một bài Minh, tức là bài tóm tắt chủ ý của bia dưới dạng câu ngắn có vần: “Việt Nam hầu thiệt. Trấn Bắc ải quan. Thạch bích hoàn vũ. Uyên quân giới phiên. Đồng Đăng linh ấp”. Có nghĩa: Đây là cửa ngõ và yết hầu của nước Việt Nam, là ải quan trấn giữ phương Bắc. Vách đá giữa trời đất, quận sâu nơi biên giới. Ấp thiêng xứ Đồng Đăng.
Sự có mặt của hai chữ Việt Nam trong tấm bia biên giới có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì vị trí tấm bia này chỉ cách ải Nam Quan (nay là cửa quan Hữu Nghị) có 2 km. Nó lại dựng lên bởi “Bắc quân Đô đốc xứ Lạng Sơn” nên tấm bia có ý nghĩa hành chính rõ rệt. Như vậy từ hơn 3 thế kỷ trước đây, tên gọi Việt Nam đã chính thức  nằm trên tấm bia hiên ngang nơi quan ải.
Từ  “Trấn Nam quan” đến “trấn Bắc ải quan”.- Những dòng đầu tiên của bài Minh trong Thủy Môn Đình viết “Việt Nam hầu thiệt. Trấn Bắc ải quan” (có nghĩa: Đây là cửa ngõ và yết hầu của nước Việt Nam, và là ải quan trấn giữ phương Bắc).
Từ trước đến nay, phương Bắc vẫn coi nước ta là một nước bị thần phục và dùng tên gọi “Trấn Nam quan” để “trấn” ta. Ở tấm bia này cho thấy, Nguyễn Đình Lộc cũng “trấn lại” bên kia với tên gọi “Trấn Bắc ải quan”. Là một người được quyền “phụ tử thế truyền” coi giữ miền quan ải, Nguyễn Đình Lộc có quyền và tự cho mình có quyền đặt cho quan ải mình coi giữ, một cách chính thức hoặc không chính thức, cái tên Trấn Bắc ải quan. Rất tiếc, tên gọi này chưa một lần được ghi trong chính sử. Và qua đó người ta cũng thấy, không phải cuốn sử chính thống nào cũng là tất cả sự thật lịch sử của một dân tộc.
Một bản anh hùng ca.- Bia Thủy Môn Đình không chỉ dừng lại ở đó. Ngoài tên gọi Việt Nam, bia Thủy Môn Đình còn có một đôi câu đối khá đặc biệt nằm dọc hai bên bia: “An trấn Thủy Môn Đình, đình tiền thủy lục. Tỏa thược Thiên Nam giới, giới hạn thiên thư”. (Giữ yên đình Thủy Môn, trước đình có đường thủy, đường bộ. Khóa chặt cõi trời Nam để giới hạn ranh giới bầu trời). Như thế có nghĩa nó không chỉ khẳng định địa giới mà cách đây hơn 300 năm còn xác định cả không phận của đất nước.
Chính vì thế mà trong bức thư đề ngày 28-8-1992 gửi đến Vụ Bảo tồn Bảo tàng, Bộ VHTT, tôi có đề nghị cần có biện pháp bảo vệ tấm bia Thủy Môn Đình cùng một số tấm bia khác có danh xưng Việt Nam. Riêng bia Thủy Môn Đình cần đưa về giữ ở Viện Bảo tàng quốc gia. Tại Công văn 2816 ngày 7-9-1992, GS Lưu Trần Tiêu, lúc đó là Vụ trưởng Vụ Bảo tồn Bảo tàng, nay là Thứ trưởng Bộ VHTT đã ghi nhận vấn đề trên.

Nguyễn Phúc Giác Hải

http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/bia-thuy-mon-dinh-ban-hung-ca-dat-nuoc-87219.htm











      Bia Thủy Môn Đình là một trong số những di vật lịch sử văn hóa có giá trị đặc biệt hiện đang lưu giữ, trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn.
Thuy mon dinh
     Bia do ông Nguyễn Đình Lộc - một viên quan triều Lê hưng công tạo dựng tại đình Thủy Môn (xứ Đồng Đăng, châu Văn Uyên) vào năm Cảnh Trị thứ 8 (1670), đời vua Lê Huyền Tông. Dòng họ Nguyễn Đình của ông vốn là dòng họ danh giá - một trong "thất tộc thổ ty" (bảy dòng họ thổ ty) nổi tiếng của Xứ Lạng. Ông Nguyễn Đình Lộc lúc đó mới ngoài 20 tuổi đã được phong chức Đô Tổng Binh sứ Ty, Bắc quân Đô đốc phủ, hữu Đô đốc tướng, Thao quận công - làm nhiệm vụ trông coi, trấn giữ vùng biên giới ở Lạng Sơn và tiếp đón các sứ thần của hai nước Việt Nam, Trung Quốc. Đây là một trọng trách hết sức lớn lao đối với một người trẻ tuổi. Đình Thủy Môn chính là nơi là việc của các phiên thần họ Nguyễn.
     Khi làm việc ở đây, ông nhận thấy nhân dân bản xứ chưa thực sự đoàn kết, còn tranh giành kìm hãm nhau, nha lại tự tung tự tác, mỗi người một phách... Với trọng trách được giao, ông đã hết sức khuyên giải mọi người, bắt tay vào giải quyết mâu thuẫn, ổn dịnh tình hình, đưa mọi việc vào phép tắc. Từ đó, mâu thuẫn được giải quyết, phong tục dần ổn định, thế sự cải đổi theo chiều hướng tốt đẹp. Mọi việc yên ổn, Ông bèn lập bia ghi lại những việc đã làm để truyền cho đời sau, nhắc nhở con cháu biết đoàn kết, gìn giữ phát huy truyền thống dòng họ để chung tay bảo vệ biên cương Tổ quốc.
     Sau này, khi đình Thủy Môn bị hư hỏng trở thành phế tích, tấm bia này vẫn nằm ở địa điểm cũ của ngôi đình nhưng đã bị đổ, rời khỏi phần đế bia. Năm 1972, một chuyên viên Bộ Ngoại giao ở Hà Nội đi công tác từ Nam Ninh (Trung Quốc) về qua đây có nhìn thấy tấm bia và biết được nội dung của tấm bia, trong đó có hai chữ "Việt Nam".
     Tháng 4 năm 1991, nhà khoa học Nguyễn Phúc Giác Hải đã có bài viết "Tên gọi Việt Nam có từ bao giờ?" đăng trên tạp chí Người đại biểu Nhân dân công bố quá trình nghiên cứu lịch sử tên gọi "Việt Nam". Theo đó, tên gọi "Việt Nam" xuất hiện sớm nhất vào thế kỷ 16 chứ không phải đến thời Nguyễn (năm 1804) mới có. Ông cũng chứng mình bằng thư tịch cổ, các di vật có sự xuất hiện của hai chữ "Việt Nam" từ năm 1804 trở về trước. Lúc này, đồng chí Cán bộ Ngoại giao nọ liền cung cấp cho ông thông tin về tấm bia có hai chữ "Việt Nam" tại Đồng Đăng, tạo tác năm 1670. Ngay sau đó, Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải đã cùng nhà Sử học Nguyễn Minh Tường (Viện Sử học), chuyên gia Hán Nôm Hoàng Giáp (Viện Nghiên cứu Hán - Nôm) lên Đồng Đăng tìm lại tấm bia. Bia được được phát hiện trong một bụi cây tại sườn đồi Phja Mạt - phía bên phải Quốc lộ 1A từ Lạng Sơn lên Đồng Đăng (thuộc khu Vườn Sái, Thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn), cách đường Quốc lộ 1A cũ khoảng 50m. Vào thời điểm đó, giới sử học đã coi sự kiện này là một phát hiện lịch sử quan trọng. Giáo sư Phan Huy Lê - Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã đánh giá rất cao việc phát hiện tấm bia này và ghi nhận đây là một di vật "đặc biệt có giá trị" ("Về tên nước và Quốc hiệu Việt Nam". Tạp chí Xưa và Nay số 144, tháng 7/2003).
     Sau khi dập, dịch nội dung tấm bia, nhận thấy tầm quan trọng và ý nghĩa đặc biệt của tấm bia (có chữ "Việt Nam" ở ngay phần đầu của tấm bia) - được sự đồng ý UBND tỉnh Lạng Sơn, tháng 5 năm 1991, Bảo tàng Tổng hợp Lạng Sơn (nay là Bảo tàng Lạng Sơn) đã mang về lưu giữ tại kho của Bảo tàng để gìn giữ, phục vụ nghiên cứu, trưng bày. Tại địa điểm phát hiện bia đã dựng một nhà bia có phiên bản của tấm bia này để phục vụ khách tham quan. Địa điểm di tích này đã được xếp hạng di tích Lịch sử Văn hóa cấp Tỉnh tháng 10 năm 2002 theo quyết định số 41/2002/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
     Bia Thủy Môn đình là tấm bia thể khối được làm từ đá núi, tạo tác đẹp và rất công phu - mang đặc trưng điển hình của nghệ thuật tạo hình thời Lê Trung Hưng (thế kỷ 17 - 18). Bia có hình khối hộp chữ nhật dẹt, kích thước lớn (cao 130cm, rộng 84cm, dày 25 cm). Ở mặt trước, chính giữa trán bia (hình bán nguyệt) trang trí chạm nổi hình mặt trời, bao quanh là mây lửa. Thân bia có hình chữ nhật, trên cùng ghi tên bia bằng chữ Hán, viết theo kiểu đại tự - bố trí theo chiều ngang: "Thể tồn bi ký" (Bia gìn giữ bảo tồn truyền thống tộc họ). Ở đầu và cuối của dòng chữ này chạm hình hai con chim phượng trong tư thế nhìn nghiêng đang sải cánh, kích thước giống hệt nhau chầu hai bên.
Hai cạnh bên của thân bia có đôi câu đối được viết theo kiểu cỡ chữ to:
Phiên âm: "An trấn Thủy Môn đình đình tiền thủy lục
Tỏa thược Thiên Nam giới giới hạn thiên thư"
(Dịch nghĩa: Gìn giữ đình Thủy Môn
trước đình đường quanh suối lượn
Khóa chặt ải Nam Quan
quan ải phân định sách trời)
     Ngay dưới đôi câu đối này chạm nổi hình đôi hạc (cao 40cm, giống hệt nhau về hình dáng, kích thước) trong tư thế chân dứng thẳng, đầu ngẩng cao, mỏ ngậm cành sen đứng trên lưng rùa, đối xứng nhau - tượng trưng cho sự trường tồn, bền vững. Phần lớn diện tích mặt trước của bia khắc chìm chữ Hán bài ký với chủ đề "Liên kết để tồn tại". Nguyễn Đình Lộc đã ghi lại những việc đã làm đúng đắn, tốt đẹp của mình để đoàn kết các tầng lớp nhân dân chung tay chung sức bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc. Sát chân bia có một đường diềm trang trí cúc dây. Bia có chân mộng hình chữ nhật (dài 60 cm, rộng 20 cm, cao 17 cm) liền với thân dùng để lắp khớp vào đế bia.
     Hai mặt bên của tấm bia có các hình trang trí chạm nổi: bên trái là hình hổ phục, bên phải là hình rồng chầu trong một khung bo hình chữ nhật - tượng trưng cho quyền uy và sức mạnh. Các vật linh này đều được tạc ở tư thế động, có đuôi hướng lên trên dáng vẻ uy nghi, dũng mãnh. Xung quanh điểm xuyết hình mây đao lửa làm tăng vẻ linh thiêng của các vật linh.
     Mặt sau của bia tạo tác khá đơn giản, chỉ có chữ mà không có hình trang trí. Chính giữa khắc chìm ba chữ Hán viết theo lối đại tự, bố trí theo chiều dọc: "Thủy Môn Đình" (Đình Thủy Môn). Bên cạnh ghi tên những người đã đóng góp dựng bia.
     Bia Thủy Môn Đình là một trong số những tấm bia thể khối được tạo tác đẹp nhất của Lạng Sơn hiện còn. Điều làm nên giá trị đặc biệt của tấm bia chính là nội dung văn bia chứa đựng tư liệu vô cùng quý giá về tên gọi, chủ quyền lãnh thổ của đất nước ở nơi địa đầu Tổ quốc. Theo các nhà nghiên cứu, hiện nay ở nước ta mới phát hiện được 7 tài liệu, hiện vật, thư tịch cổ có hai chữ "Việt Nam" có ý nghĩa như danh xưng của đất nước từ trước năm 1804.
Trong văn bia có câu: "Việt Nam hầu thiệt. Trấn Bắc ải quan". (Có nghĩa là: Đây là cửa ngõ và yết hầu của nước Việt Nam, là ải quan trấn giữ phương Bắc).
     Hai chữ "Việt Nam" trong tấm bia này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng chứng minh tên nước Việt Nam đã có từ lâu, chứ không phải theo một số tài liệu cho rằng tên nước Việt Nam mới xuất hiện từ thời nhà Nguyễn - khi vua Gia Long (Nguyễn Ánh) lên ngôi năm 1802, thống nhất đất nước mới đổi Quốc hiệu là Việt Nam vào năm 1804. Hơn nữa, hai chữ này lại xuất hiện ở ngay phần đầu của tấm bia được dựng bởi Bắc quân Đô đốc xứ Lạng Sơn nên có ý nghĩa hành chính rõ rệt, thể hiện rõ ý nghĩa Quốc gia và danh xưng của tên gọi "Việt Nam". Đây là lần đầu tiên trong bia biên giới khẳng định rõ ràng vùng đất Lạng Sơn xưa là cửa ngõ, yết hầu, là ải quan trấn giữ phương Bắc của nước Việt Nam. Điều này, các sách chính sử trước đó chưa từng ghi chép. Bia Thủy Môn Đình dựng ở nơi cửa ngõ của đất nước (chỉ cách cửa khẩu Hữu Nghị ngày nay 2 km), là bằng chứng hùng hồn khẳng định chủ quyền lãnh thổ của đất nước ở nơi địa đầu Tổ quốc. Đây là tư liệu quý giúp cho việc nghiên cứu lịch sử, hệ thống quản lý hành chính ở nước ta nói chung và Lạng Sơn nói riêng dưới thời phong kiến; Góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu xác định nguồn gốc và tên gọi của Tổ quốc ta trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử. Nhiều người đã ví bia Thủy Môn đình như một bản hùng ca của đất nước. Đáp ứng đủ các tiêu chí của một bảo vật Quốc gia theo quy định của luật Di sản Văn hóa: là hiện vật gốc độc bản, có hình thức độc đáo và là hiện vật có giá trị lịch sử đặc biệt, bia Thủy Môn đình đã được Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn lập hồ sơ khoa học, trình Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh làm thủ tục đề nghị công nhận bảo vật quốc gia. Ngày 14/1/2015, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 53/QĐ-Ttg công nhận bảo vật quốc gia đợt 3 đối với 12 hiện vật và nhóm hiện vật – trong đó có bia Thủy Môn đình. Đây là bảo vật quốc gia đầu tiên của tỉnh Lạng Sơn, một trong 79 bảo vật quốc gia của đất nước. Bia Thủy Môn đình xứng đáng là niềm tự hào lớn của di sản văn hóa xứ Lạng./.
                                                                                                
Một số hình ảnh Bia Thủy Môn Đình
2015-02-10 105036

2015-02-10 105259
                                                 2015-02-10 110235                                              
                                                                                                     Bài và ảnh : Chu Quế Ngân
http://baotanglangson.vn/index.php/component/k2/item/351-bia-th%E1%BB%A7y-m%C3%B4n-%C4%91%C3%ACnh-ni%E1%BB%81m-t%E1%BB%B1-h%C3%A0o-c%E1%BB%A7a-di-s%E1%BA%A3n-v%C4%83n-h%C3%B3a-x%E1%BB%A9-l%E1%BA%A1ng


Bia Thuỷ môn đình (1670)
“Việt Nam hầu thiệt. Trấn Bắc ải quan”

Bia Thủy Môn Đình, dấu ấn chủ quyền nơi phên dậu tổ quốc
Bia Thủy Môn Đình, dấu ấn chủ quyền nơi phên dậu tổ quốc
Công nhận 12 bảo vật quốc gia

Tổng quan

Sự có mặt của hai chữ Việt Nam trong tấm bia Thủy Môn Đình có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì tấm bia chỉ cách ải Nam Quan (nay là cửa khẩu Hữu Nghị) có 2km. Nó lại dựng lên bởi “Bắc quân Đô đốc xứ Lạng Sơn” nên tấm bia có ý nghĩa hành chính rõ rệt. Như vậy, từ hơn 3 thế kỷ trước đây, tên gọi Việt Nam đã chính thức nằm trên tấm bia hiên ngang nơi quan ải, khẳng định chủ quyền, lãnh thổ của đất nước.


Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua và cho đổi tên nước là Việt Nam. Sách Đại Nam thực lục chép: “Giáp Tý, Gia Long năm thứ 3 (1804), tháng 2, ngày Đinh Sửu, đặt Quốc hiệu là Việt Nam, đem việc cáo Thái Miếu. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài”. Đây là lần đầu tiên hai chữ “Việt Nam” được sử dụng với tư cách Quốc hiệu, được công nhận hoàn toàn về ngoại giao. 

Tuy nhiên, hai chữ “Việt Nam” đã xuất hiện khá sớm trong lịch sử nước ta. Ngay từ thế kỷ XIV, hai chữ “Việt Nam” xuất hiện lần đầu tiên ở tiêu đề cuốn sách “Việt Nam thế chí” (ghi chép về các đời ở Việt Nam) của Trạng nguyên Hồ Tông Thốc  .

Trên nhiều tấm bia, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy hai chữ “Việt Nam”, như trên tấm bia khắc ở chùa Bảo Lâm (Chí Linh, Hải Dương) năm 1558, có câu “Việt Nam đại danh lam bất tri kỳ cơ”. Tuy nhiên, hiện nay chùa Bảo Lâm và tấm bia hiện nay đã mất, chỉ còn lại bản dập văn bia lưu giữ ở Viện Hán Nôm.Tấm bia thứ hai là tấm bia thời Mạc tại chùa Cam Lộ (Đào Xá, Phú Xuyên, Hà Tây (cũ)), năm 1590, có câu “Chân Việt Nam chi đệ nhất”. Chùa Cam Lộ không còn nhưng tấm bia vẫn được đặt trong một cái am nhỏ.

Tấm bia thứ ba có hai chữ Việt Nam là tấm bia dựng năm 1664 tại chùa Phúc Thành, xã Mộ Đạo, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Chùa Phúc Thành và tấm bia  nay không còn nữa nhưng bản dập văn bia vẫn còn lưu giữ tại Viện Hán Nôm.

Trước đây, bia được dựng trong Đình Thuỷ Môn, nên thường gọi là bia Thuỷ Môn Đình, do quan Đô Tổng binh, Bắc quân Đô đốc phủ Lạng Sơn Nguyễn Đình Lộc – lúc đó làm nhiệm vụ trông coi, trấn giữ vùng biên giới ở Lạng Sơn và tiếp đón các sứ thần của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, dựng năm Cảnh Trị Bát niên (tức năm 1670). Đình Thuỷ Môn vừa là nơi làm việc,vừa là nơi thờ tự của dòng họ Nguyễn Đình tại Đồng Đăng. Sau này, khi đình Thủy Môn bị hư hỏng trở thành phế tích, tấm bia vẫn nằm ở địa điểm cũ nhưng đã bị đổ, rời khỏi phần đế bia.

Đây là bia đá xám hình khối hộp chữ nhật dẹp, thân bia cao 1,5m; rộng 0,82m; dày 0,18m. Trán bia hình bán nguyệt cao 0,2m, ở mặt trước trán bia trang trí chạm nổi “Lưỡng long chầu nhật” và hình mặt trời, bao quanh là mây lửa. Mặt trước khắc Hán tự "Thể tồn bi ký", nghĩa là Bia gìn giữ bảo tồn truyền thống tộc họ. Ở đầu và cuối của dòng chữ này chạm hình hai con chim phượng trong tư thế nhìn nghiêng đang sải cánh, kích thước giống nhau chầu hai bên. Suốt độ dày của bia từ chân đế đến đỉnh có hình trang trí một bên Rồng chầu và bên kia Hổ phục, với phần đuôi các con vật hướng lên trên, xung quanh điểm xuyết hình mây đao lửa. Diềm bia soi gờ nổi xung quanh, hoa văn trang trí loại dây lá. Hai cạnh bên của thân bia là đôi câu đối được viết theo kiểu cỡ chữ to, phiên âm: 

An trấn Thuỷ Môn đình đình tiền thuỵ lục.
Tỏa thược Thiên Nam giới giới hạn thiên thu.

Dịch nghĩa:
Gìn giữ đình Thuỷ Môn, trước đình đường quanh suối lượn.
Khoá chặt ải Nam Quan, quan ải phân định sách trời.

Ngay dưới đôi câu đối chạm nổi hình đôi hạc (cao 40cm, giống hệt nhau về hình dáng, kích thước) tư thế chân đứng thẳng, đầu ngẩng cao, mỏ ngậm cành sen đứng trên lưng rùa, đối xứng nhau. Sát chân bia có một đường diềm trang trí cúc dây. Bia có chân mộng hình chữ nhật cao 0,17m; dài 0,6m;  rộng 0,15m để lắp vào đế bia trên lưng một con rùa đá lớn. 

Phần lớn diện tích mặt trước của bia khắc chìm chữ Hán bài ký với chủ đề “Liên kết để tồn tại”. Đô đốc Nguyễn Đình Lộc đã ghi lại những việc làm để đoàn kết các tầng lớp nhân dân chung sức bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc. Mặt sau của bia tạc khá đơn giản, chỉ có chữ mà không có hình trang trí. Chính giữa khắc chìm ba chữ Hán theo lối đại tự, bố trí theo chiều dọc: “Thủy Môn Đình” (Đình Thủy Môn). Bên cạnh ghi tên những người đã đóng góp dựng bia.

Giá trị đặc biệt của tấm bia chính là nội dung văn bia chứa đựng tư liệu vô cùng quý giá về tên gọi, chủ quyền lãnh thổ của đất nước ở nơi địa đầu Tổ quốc. Trong văn bia có câu “Việt Nam hầu thiệt. Trấn Bắc ải quan” nghĩa là Đây là cửa ngõ và yết hầu của nước Việt Nam và là ải quan trấn giữ phương Bắc. Vách đá giữa trời đất, quận sâu nơi biên giới. Ấp thiêng xứ Đồng Đăng.

Toạ độ

Hình ảnh [xem cả trang] [Google Images]




 © Hiện tại bia đã được dời về bảo tàng Lạng Sơn




 © Hai chữ "Việt Nam" trên bia Thủy Môn Đình



Thứ Năm, 17 tháng 3, 2016

Ngôi chùa trên bìa sách mới được công nhận di tích cấp quốc gia


Bìa sách đã in năm 2012 (2013) như sau (nguồn ở entry cũ, tại đây):



Nay ngôi chùa trên bìa sách vừa được công nhận di tích cấp quốc gia. Cũng có thể xem như là một phần kết quả đến từ cuốn sách đó.

Quyết định:



Một bài của Vĩnh Phúc về ngôi chùa (chép nguyên xi):

"

Kể từ thời kỳ Thăng Long và hậu Cao Bằng, Nhà Mạc đã xác định Vĩnh Phúc sẽ là căn cứ lâu dài. ở đây có nhiều di tích quan trọng: Bốn khu lăng mộ và ít nhất 6 ngôi chùa gắn với dòng họ Mạc. Một trong 6 ngôi chùa đó là chùa Sùng Khánh hay còn gọi là chùa Tiên Lữ ở xã Tiên Lữ, huyện Lập Thạch. Đây là ngôi chùa cổ, hiện còn giữ được nhiều hiện vật sinh động và quý, ghi dấu những sự kiện và nhân vật lịch sử.




Chùa Sùng Khánh tọa lạc trên một gò cao, trong một khuôn viên rộng chừng 1000m2, thoáng, đẹp nằm cạnh con đường liên xã đi từ Tiên Lữ sang Đình Chu. Hiện nay chưa xác định được chính xác thời điểm xây chùa. Nhưng theo những gì còn ghi lại trên 02 bia đá được tạo năm 1709 và năm 1716 còn ghi công đức của nhân dân và các địa phương để dựng chùa; trên câu đầu bên trái của tòa Bái đường ghi lại lần trùng tu lớn là vào năm Tự Đức thứ 29 (tức năm 1876); Người trông giữ Chùa đều thuộc họ Nguyễn gốc Mạc ở Tiên Lữ, đến nay đã trải qua 7 thế hệ. Như vậy có thể xác định chùa Sùng Khánh được xây dựng vào khoảng những năm cuối của thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII.


Tổng diện tích mặt bằng của chùa là 269m2 với 54 cột, 12 vì kèo liên kết với nhau theo kiểu kiến trúc chữ công. Tường xây bít đốc bằng đá ong bền chắc, mặt trước có 3 cửa chính để vào chùa. Mái lợp bằng ngói mũi hài phẳng, các đường bờ nóc thẳng, 2 tòa bái đường và thượng điện đều có cấu trúc kiểu 4 mái, vì vậy tổng thể chùa có dáng vẻ khá sinh động. Toàn bộ kết cấu bằng gỗ của chùa đều được bào trơn đóng bén, không có những chạm trổ cầu kỳ nhưng lại đảm bảo tính bền vững của một công trình kiến trúc cổ, đến nay chùa còn khá bền vững, chắc chắn. Trước chùa là một sân gạch rộng và khoảng không gian phía trước; toàn bộ khuôn viên được xây tường bao loan kín đáo, quang cảnh đẹp, tĩnh mịnh.


Tam quan chùa được phục dựng năm 1999 có kiến trúc khá quy mô, trên đỉnh có đắp lưỡng long chầu nguyệt, trên đỉnh bốn cột trụ đắp con phượng và con nghê, bên dưới là câu đối. Lầu chuông tọa lạc ngay giữa sân chùa, được trùng tu và xây dựng lại vào tháng Chạp năm Mậu Tý. Tòa Đại bái dáng khỏe, bền chắc, có không gian thoáng đẹp. Tòa Thượng điện gồm ba gian, gian chính giữa là chính điện; bài trí trên cùng sát mái phía tường hậu là ba pho tượng Tam thế được tạc bằng chất liệu gỗ mít sơn son thiếp vàng. Các pho tượng đều tọa lạc trên tòa sen, khuôn mặt bầu đượm vẻ từ bi, tai to, tóc xoăn, mắt nhìn xuống trong trạng thái tĩnh tâm hoàn toàn, cổ cao ba ngấn, hai tay dài, bàn tay dày, mình mặc áo choàng nhiều lớp, hai vạt áo buông chùng tự nhiên và vắt vào nhau ở phía dưới như cánh hoa cách điệu làm tôn lên vẻ đẹp hài hòa, cân đối một cách hoàn mỹ. Bệ gỗ và tòa sen được kết cấu kiểu giật cấp ba tầng, tạo thành khối kiến trúc nghệ thuật đẹp, nhẹ nhàng thanh thoát mà vững chãi đỡ toàn bộ pho tượng phía trên làm tăng thêm vẻ uy nghi, thâm nghiêm của ngôi chùa. Tượng Tam thế đại diện cho chư phật mười phương ở ba thời: Quá khứ - Hiện tại - Tương lai. Đây là các pho tượng đẹp, quý, đều được tạc từ thời vua Lê Trung Hưng đến nay vẫn giữ nguyên được dáng vẻ mà chưa phải trùng tu. Tiếp theo là hai pho tượng Di Đà ngồi trên tòa sen, mặt bầu đầy đặn, tai to, mắt nhìn xuống vẻ tĩnh tâm, tóc xoăn. Lớp thứ ba là tượng Quan âm thiên thủ thiên nhãn ngồi trên tòa sen, phía dưới tòa sen là con Nghê miệng há rộng, mắt lồi dữ tợn, hai bên là hai hàng lông xuôi về phía sau như bơi chèo. Tượng có 12 tay giơ về các hướng với những tư thế khác nhau và được tạc bằng gỗ mít, khuôn mặt bầu hiền từ, mắt nhìn xuống, tai to, đầu đội mũ thất phật có ba tầng trang trí hình hoa cúc và hình mặt trời tỏa sáng. Hai bên tượng Quan âm là hai pho tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ ở tư thế đứng, áo choàng nhiều lớp rủ kín thân, ống tay áo rộng, vạt áo bên phải cuốn gọn vào thân, vạt áo bên trái thả thùng.



Ở tòa Thượng điện, ngày nay còn có hai bia đá ghi lại hai giai đoạn lịch sử quan trọng với ngôi chùa. Nội dung ghi việc xây tường bao và tu sửa lại chùa là tiểu tăng trụ trì Nguyễn Hữu Pháp, cùng tham gia hưng công xây dựng còn có hơn 30 vị khác là người trong làng. Đặc biệt ở đây còn có sự tham gia của một người Trung Quốc (Điều này cho thấy họ nhà Mạc lúc bấy giờ có mối quan hệ trực tiếp với nhà Thanh, hoàn toàn phù hợp với thực tế là nhà Mạc ở Cao Bằng luôn được sự ủng hộ của nhà Thanh). Bia thứ hai bị vỡ mất một góc phía dưới, chỉ còn một phần bên trên. Tiếp dưới là phần ống muống được xây bệ thờ tại đây được bài trí pho tượng Ngọc Hoàng Thượng đế, hai bên là Nam Tào và Bắc Đẩu. Phía ngoài là pho tượng Thích Ca sơ sinh đứng trên tòa sen.


Phía ngoài gian Tiền Đường có hai pho tượng cao to nổi bật, là hai pho tượng Khuyến thiện và Trừng ác. Tượng Khuyến thiện bên trái đầu đội mũ giáp trụ, mình mặc võ phục, nai nịt gọn gàng, có khuôn mặt trắng, đẹp phúc hậu, chân đi hài cong, lưng thắt đai đỏ, một tay chống vào đầu sư tử, một tay cầm viên ngọc minh châu, mắt nhìn thẳng hiền từ như kêu gọi chúng sinh một lòng hành thiện, ngồi trên lưng một con sư tử dáng vẻ dữ tợn, mắt lồi, hai hàm răng trắng, bốn chân choãi ra bám chặt xuống đất, lưng oằn xuống chịu sức nặng của vị Hộ pháp. Phía bên phải là tượng ông Trừng ác, mặt đỏ, mắt xếch, râu vểnh ngược, đầu đội mũ giáp trụ, trang phục võ tướng như tượng Khuyến Thiện, một tay chống lên đùi, một tay cầm thanh long đao, chân phải giẫm trên mình một con quỷ, tượng cưỡi trên mình con sư tử dáng vẻ dữ tợn càng tăng thêm vẻ uy nghi, oai nghiêm của vị thánh chuyên trừng trị những kẻ gây ác trong thế gian.


Hai bên phía đầu hồi tòa Tiền Đường là bộ tượng Bát Bộ Kim Cương, là những thần tướng trên trời đã quy y tam bảo và phát nguyện hộ trì phật pháp, mỗi vị đều cầm một thứ binh khí ngồi ở các tư thế khác nhau, đầu đội mũ giáp trụ, mặc võ phục oai phong lẫm liệt trấn giữ các phương.


Đặc biệt ở gian Bái đường còn có hai cụm tượng lạ. Đó là tượng Ông và tượng Bà. Tượng Ông ở cùng phía tượng ông Trừng ác, ở tư thế ngồi, hai bên có hai thị vệ là võ sĩ. Tượng ông có dáng dấp của một võ tướng, oai nghiêm, vạm vỡ, đầu đội mũ, áo bổ tử. Tượng có dáng dấp như tượng Mạc Đăng Dung ở chùa Trà Phương (Hải Phòng). Tượng Bà ở phía tượng ông Khuyến thiện cũng ở tư thế ngồi, hai bên có hai tượng thị nữ chắp tay chầu. Tượng Bà đã được tu sửa vẽ thêm râu ria như một nam giới nhưng nhìn kỹ có thể nhận ra là tượng nữ, bởi mũi thanh, lông mày mảnh, cong, áo ngoài như áo của tăng ni nhưng có yếm, hai bên lại có hai thị vệ là nữ giới. Rõ ràng đây không phải là tượng Phật, cũng không phải là tượng Hậu mà là hai tượng Ông và tượng Bà, có thị tòng và thị nữ. Tuy không rõ hai vị này là ai, nhưng vị thế của họ rất được trân trọng. Theo tư liệu văn bia, thì chùa này do cụ Nguyễn Hữu Pháp tự Đạo Thái hiệu Huyền Ân xây dựng và trụ trì, ông là con trai cả của vua Mạc Kính Vũ. Rất có thể ông đã cho dựng tượng vua cha là Mạc Kính Vũ và phu nhân để thờ ở chùa này.


Chùa Tiên Lữ còn có hệ thống tượng phật, bia ký lâu đời mặc dù đã trải qua những biến cố, thăng trầm của lịch sử, song những gì còn lại đã minh chứng cho một sức sống mãnh liệt của một nền văn hóa dân tộc đã trở thành một bộ phận cấu thành đời sống xã hội của dân tộc Việt Nam. Qua mô tả có thể thấy, nghệ thuật điêu khắc trên các chất liệu thể hiện sự tài hoa của các nghệ nhân xưa, bằng trí tưởng tượng, sự tỉ mỉ, chính xác; mỗi pho tượng đã thể hiện một nội tâm, hồn sống toát ra từ dáng vẻ bề ngoài đó chính là sự thành công của các nghệ nhân xưa, đây thực sự là những tác phẩm nghệ thuật đạt trình độ cao, xứng đáng để tồn tại với thời gian.


Hệ thống các công trình phụ của chùa được nhân dân đóng góp và xây dựng hoàn thành vào tháng 2/2012.


Chùa Sùng Khánh ngày nay đã và đang thu hút đông đảo du khách đến đây bởi ngôi chùa mang trong mình những giá trị lịch sử to lớn mà không phải bất kỳ ngôi chùa nào cũng có được. Đến đây du khách có cơ hội để nhìn nhận lại lịch sử đất nước; qua đó có cái nhìn chính xác hơn về triều đại Nhà Mạc, một triều đại tiến bộ nhưng không gặp thời. Chùa Sùng Khánh đã được UBND tỉnh Vĩnh Phúc xếp hạng là di tích cấp tỉnh năm 2004./.
Thu Hiền - XTDL

"
http://vinhphuc.tourism.vn/index.php?cat=1501&itemid=1515

Thứ Hai, 6 tháng 7, 2015

Hà Nội nhất trí tên đường Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông

Tin của TTO và các trang khác.

---



06/07/2015 18:36 GMT+7

TTO - Chiều 6-7, HĐND TP Hà Nội đã nhất trí thông qua nghị quyết về việc đặt tên 19 tuyến đường phố mới, trong đó có hai tuyến đường mang tên hai vị vua đầu triều Mạc.
Ông Lê Hồng Sơn, phó chủ tịch UBND TP Hà Nội, trình bày tờ trình về đặt tên 19 tuyến đường, phố mới - Ảnh: XUÂN LONG
Ông Lê Hồng Sơn, phó chủ tịch UBND TP Hà Nội, trình bày tờ trình về đặt tên 19 tuyến đường, phố mới - Ảnh: XUÂN LONG
Đọc tờ trình về đặt tên 19 tuyến đường, phố, ông Lê Hồng Sơn, phó chủ tịch UBND TP Hà Nội, đề nghị đặt tên đường Mạc Thái Tổ (Mạc Đăng Dung) cho đoạn đường dài 900m, từ ngã ba giao cắt với đường Phạm Hùng đến ngã tư giao cắt với phố Trung Kính; đặt tên đường Mạc Thái Tông (Mạc Đăng Doanh) cho đoạn đường dài 840m, từ ngã ba giao cắt với phố Phạm Hùng đến ngã tư giao cắt với phố Trung Kính (quận Cầu Giấy).
Đây là lần thứ hai UBND TP Hà Nội đề nghị đặt tên đường đối với hai vị vua đầu triều Mạc. Trước đó, cuối năm 2014 UBND TP Hà Nội đã xin rút tờ trình gửi HĐND TP về việc đặt tên đường Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông vì còn những ý kiến khác trước việc đặt tên đường này.
Theo ông Lê Hồng Sơn, trước khi trình phương án đặt tên đường, phố lần này, hội đồng tư vấn đặt tên, đổi tên đường phố đã họp nhiều lần. Sau khi thống nhất, hội đồng tư vấn cũng đã lấy ý kiến của Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch.
Tuy nhiên, trong phần điều hành thảo luận tại hội trường về nội dung đặt tên 19 tuyến đường, phố mới, ông Lê Văn Hoạt, phó chủ tịch HĐND TP, sau nhiều lần đề nghị các đại biểu cho ý kiến nhưng phía dưới hội trường không có đại biểu nào bấm nút phát biểu.
“Không có đại biểu nào có ý kiến về nội dung này, như vậy tôi hiểu rằng các đại biểu đã đồng ý cho biểu quyết thông qua nghị quyết về đặt tên đường, phố, vì vậy đề nghị phòng máy cho biểu quyết” -ông Hoạt nói.
Theo nghị quyết về đặt tên 19 tuyến đường, phố mới đã được HĐND TP Hà Nội thông qua có 9 tuyến đường, phố mang tên địa danh, 4 phố mang tên di tích lịch sử văn hóa, 6 đường, phố mang tên danh nhân, trong đó còn có tên đường Nguyễn Đình Thi (đoạn đường 2.230m từ ngã ba giao cắt đường Thanh Niên cạnh vườn hoa Lý Tự Trọng đến ngã ba giao cắt phố Trích Sài, quận Tây Hồ), phố Trịnh Công Sơn (dài 900m từ ngã ba ngõ 612 Lạc Long Quân đến giao với ngã ba đê Âu Cơ, quận Tây Hồ).

XUÂN LONG

http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20150706/dai-bieu-hdnd-tp-ha-noi-nhat-tri-ngay-ma-khong-thao-luan/773313.html




Hà Nội: Quyết định đặt tên phố Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông

Thứ Hai 17:21 06/07/2015

(HNMO) - Chiều nay (6-7), các đại biểu HĐND TP Hà Nội đã biểu quyết thông qua dự thảo nghị quyết về việc đặt tên và điều chỉnh độ dài một số đường, phố trên địa bàn TP Hà Nội năm 2015. Theo đó có 19 đường, phố đặt tên mới, trong đó 9 đường, phố mang tên địa danh; 4 đường, phố mang tên di tích lịch sử; 6 đường, phố mang tên danh nhân; 3 phố điều chỉnh kéo dài.
Cụ thể: Quận Bắc Từ Liêm có 6 đường, phố gồm: phố Hoàng Liên (đoạn từ ngã ba giao cắt đường đê Liên Mạc đến ngã ba đường đối diện nghĩa trang thôn Hoàng Liên) dài 520m, rộng: 7m; đường Sùng Khang (đoạn từ ngã ba giao cắt đường Tây Tựu, Kỳ Vũ đến ngã tư giao cắt đường Yên Nội, phường Thượng Cát, Liên Mạc) dài 1.400m, rộng 7-10,5m; phố Châu Đài (đoạn từ ngã ba dốc Đình giao cắt chân đê đường Thượng Cát đến ngã tư cầu Vò cạnh đền Châu Đài (đền Thượng Cát), dài 600m, rộng 5-7m; phố Trung Tựu (đoạn từ ngã ba đường Phú Diễn Liên Mạc đến đường Tây Tựu) dài 1.300m;, rộng 7m; phố Đăm (đoạn từ ngã ba giao cắt đường Tây Tựu đến đình Đăm) dài 350m, rộng 5,5-7m; phố Thanh Lâm (đoạn từ đường QL32 đến ngã ba giao cắt đường số 4 khu công nghiệp vừa và nhỏ Từ Liêm) dài 605m, rộng 15m.

Trên địa bàn quận Cầu Giấy có 3 đường, phố gồm: phố Mạc Thái Tổ (đoạn đường từ ngã ba giao cắt đường Phạm Hùng đến ngã tư giao cắt phố Trung Kính) dài 900m, rộng 60m; phố Mạc Thái Tông (đoạn đường từ ngã ba giao cắt với đường Phạm Hùng (đối diện cổng sau Trung tâm Hội Nghị Quốc gia) đến ngã tư giao cắt với phố Trung Kính, tiếp nối phố Vũ Phạm Hàm), dài 840m, rộng 17m; phố Phạm Văn Bạch (đoạn đường từ ngã tư giao cắt phố Trung Kính, Dương Đình Nghệ đến bùng binh nối các phố Tôn Thất Thuyết, Trần Thái Tông cạnh Cung Trí thức thành phố) dài 500m, rộng 40m.

Tại quận Nam Từ Liêm có 3 đường, phố: phố Đại Linh (đoạn từ ngã tư giao cắt phố Cương Kiên và Trung Văn đến ngã ba giao cắt phố Sa Đôi) dài 1.500m, rộng 7m; phố Do Nha (đoạn từ ngã tư giao cắt phố Miêu Nha tại cổng làng Miêu Nha đến trường Tiểu học Tây Mỗ (phân hiệu 2) dài 600m, rộng 5-7m; phố Nguyễn Hoàng (đoạn từ ngã tư giao cắt đường Phạm Hùng cạnh bến xe Mỹ Đình đến ngã tư đường Lê Đức Thọ, phố Hàm Nghi), dài 2.200m, rộng 40m.

HĐND thành phố Hà Nội thông qua việc đặt tên phố Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông
HĐND thành phố Hà Nội thông qua việc đặt tên phố Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông trên địa bàn quận Cầu Giấy

Huyện Đông Anh có 3 đường: đường Bắc Hồng (đoạn từ cầu Đò So bắc qua sông Cà Lồ đến ngã ba giao cắt đường đi thôn Thượng Phúc và Quan Am, xã Bắc Hồng) dài 2.120m, rộng: 10,5m; đường Vân Nội (đoạn từ ngã ba giao cắt phố Vân Trì đến đường rẽ đi thôn Mỹ Nội, xã Bắc Hồng) dài 900m, rộng 10,5m; đường Gia Lương (đoạn từ cuối đường Dục Nội đến ngã ba giao cắt đường đi vào thôn Thư Cưu xã Cô Loa) dài 1.560m, rộng 10,5m.
Quận Tây Hồ có 2 đường, phố gồm: Phố Nguyễn Đình Thi là đoạn từ ngã ba giao cắt đường Thanh Niên cạnh vườn hoa Lý Tự Trọng đến ngã ba giao cắt phố Trích Sài, dài: 2.230m; rộng: 7,5-9,5m. Phố Trịnh Công Sơn là đoạn từ ngã ba ngõ 612 Lạc Long Quân đến giao với dốc ngã ba đê Âu Cơ cạnh trường THPT Phan Chu Trinh. Dài: 900m; rộng: 9,5-12,5m.

Trên địa bàn quận Hà Đông có phố Yên Lộ (đoạn từ ngã ba giao cắt với tuyến đường tiếp nối phố Tố Hữu vào tổ dân phố 10, 11, 12, 13 phường Yên Nghĩa đến ngã ba giao cắt với lối lên đê Yên Nghĩa) dài 1.000m, rộng 8m. Đối với quận Long Biên có đường Phúc Lợi (đoạn cuối phố Lưu Khánh Đàm đến ngã ba giao cắt quốc lộ 1B giáp chân cầu Phù Đổng) dài 3.836m, rộng 21m.

Có 3 tuyến phố được điều chỉnh kéo dài, gồm: phố Trần Phú, quận Ba Đình (đoạn từ cuối phố Trần Phú (ngã năm giao cắt phố Lê Trực, Ông Ích Khiêm, Trịnh Hoài Đức) đến ngã ba giao cắt phố Sơn Tây) dài 220m, rộng 22m; phố Nhật Tảo, quận Bắc Từ Liêm (đoạn từ cuối phố Nhật Tảo (chùa Nhật Tảo) đến ngã ba gần Xí nghiệp xây lắp H36, tổ dân phố xóm chùa, phường Đông Ngạc), dài 500m, rộng 5-7m; phố Hàm Nghi (quận Nam Từ Liêm), đoạn từ cuối phố Hàm Nghi đến ngã ba giao cắt đường K2, đối diện xí nghiệp 197 Bộ quốc phòng, phường Cầu Diễn) dài 500m; rộng 40m.