Thứ Ba, 10 tháng 5, 2016

Bia Thủy Môn đình (khắc dựng năm 1670) mang hai chữ Việt Nam


Tạm sử dụng bài trên web Người Lao động,  Bảo tàng Lạng Sơn, và Vietnam Landmarks.

---


Bia Thủy Môn Đình- bản hùng ca đất nước


05/04/2003 00:00

LTS: Sau khi Báo NLĐ số 2674 (phát hành ngày 22-3) đăng bài Người đi tìm quốc hiệu Việt Nam, một số bạn đọc đã gọi điện đến tòa soạn, muốn biết thêm chi tiết về tấm bia biên giới Thủy Môn Đình, trong đó ngoài hai chữ Việt Nam còn nói đến “Trấn Bắc ải quan”. Nhà khoa học Nguyễn Phúc Giác Hải, người đã tìm ra tấm bia này, đã có bài viết riêng cho Báo NLĐ

Ước mơ:
Tôi hy vọng một ngày không xa, nhân dân thủ đô cũng như cả nước sẽ được nhìn thấy tận mắt tấm bia Thủy Môn Đình trong Viện Bảo tàng Lịch sử.
Tháng 4-1991, sau khi chúng tôi đăng bài Tên gọi Việt Nam có tự bao giờ? trên tạp chí Người đại biểu nhân dân trong đó nói là đã tìm thấy một số bia cổ từ thế kỷ 16 có hai chữ Việt Nam cho thấy tên gọi này không phải đến thời Nguyễn (1804) mới có. Tôi đã nhận được một nguồn tin cho biết thêm, ở biên giới Đồng Đăng (Lạng Sơn) cũng có một tấm bia, tuy niên đại muộn hơn (1670), có hai chữ Việt Nam. Người cho biết thông tin này là một chuyên viên của Bộ Ngoại giao. Ông cho biết, năm 1971, nhân dịp từ Nam Ninh về công tác ở Đồng Đăng, trong lúc cao bước ngắm phong cảnh Đồng Đăng, ông bất chợt phát hiện một tấm bia đá trong bụi rậm trên đồi, bên đường Quốc lộ 1 (phía Bắc) đi vào Đồng Đăng. Bia có tên Thủy Môn Đình, dựng năm Cảnh Trị bát niên (tức năm 1670), trên bia có bài Minh ghi rõ “Việt Nam hầu thiệt. Trấn Bắc ải quan”. Tôi có gặp ông để hỏi thêm chi tiết thì ông nói rằng trước đây ông không chú ý lắm tới hai chữ Việt Nam vì nghĩ rằng đó là tên nước đã có từ lâu, nhưng khi đọc bài viết của tôi, ông đã nhớ lại tấm bia này. Ông cũng nói là 20 năm qua, do cuộc chiến tranh biên giới, không rõ tấm bia này có còn không. Tôi đã đề nghị ông bố trí thời gian đi cùng lên biên giới nhưng ông tỏ ý rất tiếc vì phải đi công tác nước ngoài ngay.
Tấm bia nơi quan ải.- Nhận thấy đây là tấm bia có tầm quan trọng đặc biệt, tôi đã trao đổi với nhà sử học Dương Trung Quốc, lúc đó là Viện Phó Viện Sử học. Anh Quốc giới thiệu với tôi anh Nguyễn Minh Tường. Ngoài ra, tôi có mời thêm anh Hoàng Giáp, chuyên viên Viện Hán Nôm, chúng tôi  cùng đi Lạng Sơn. Bia được tìm thấy khá dày dặn, có bệ, cao hơn đầu người. Khi được phát hiện, bia nằm giấu kín trong đám bụi cây. Mặt lưng bia có ba chữ Thủy Môn Đình rất to. Thủy Môn Đình do quan Đô Tổng binh, Bắc quân Đô đốc phủ Lạng Sơn Nguyễn Đình Lộc soạn năm Cảnh Trị bách niên dưới thời Lê Trịnh. Mở đầu bia viết đại ý “ta nhờ tổ tông tích thiện, nên từ lúc còn trẻ đã được theo vua giết giặc lập công, được phong chức giữ nơi bờ cõi, cửa ngõ của sự bang giao, nơi hai nước có sứ giả đi lại và văn thư giao dịch. Nhờ gặp thời Hoàng Lê thịnh trị, vạn đẹp của Chúa, thu phục được “bát man”, được giao trọng  trách trông giữ miền quan ải, trách nhiệm nặng nề, vì thế lập bia để con cháu trông gương mà bắt chước, báo đền ơn vua, lộc nước”.
Ở giữa bia có một bài Minh, tức là bài tóm tắt chủ ý của bia dưới dạng câu ngắn có vần: “Việt Nam hầu thiệt. Trấn Bắc ải quan. Thạch bích hoàn vũ. Uyên quân giới phiên. Đồng Đăng linh ấp”. Có nghĩa: Đây là cửa ngõ và yết hầu của nước Việt Nam, là ải quan trấn giữ phương Bắc. Vách đá giữa trời đất, quận sâu nơi biên giới. Ấp thiêng xứ Đồng Đăng.
Sự có mặt của hai chữ Việt Nam trong tấm bia biên giới có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì vị trí tấm bia này chỉ cách ải Nam Quan (nay là cửa quan Hữu Nghị) có 2 km. Nó lại dựng lên bởi “Bắc quân Đô đốc xứ Lạng Sơn” nên tấm bia có ý nghĩa hành chính rõ rệt. Như vậy từ hơn 3 thế kỷ trước đây, tên gọi Việt Nam đã chính thức  nằm trên tấm bia hiên ngang nơi quan ải.
Từ  “Trấn Nam quan” đến “trấn Bắc ải quan”.- Những dòng đầu tiên của bài Minh trong Thủy Môn Đình viết “Việt Nam hầu thiệt. Trấn Bắc ải quan” (có nghĩa: Đây là cửa ngõ và yết hầu của nước Việt Nam, và là ải quan trấn giữ phương Bắc).
Từ trước đến nay, phương Bắc vẫn coi nước ta là một nước bị thần phục và dùng tên gọi “Trấn Nam quan” để “trấn” ta. Ở tấm bia này cho thấy, Nguyễn Đình Lộc cũng “trấn lại” bên kia với tên gọi “Trấn Bắc ải quan”. Là một người được quyền “phụ tử thế truyền” coi giữ miền quan ải, Nguyễn Đình Lộc có quyền và tự cho mình có quyền đặt cho quan ải mình coi giữ, một cách chính thức hoặc không chính thức, cái tên Trấn Bắc ải quan. Rất tiếc, tên gọi này chưa một lần được ghi trong chính sử. Và qua đó người ta cũng thấy, không phải cuốn sử chính thống nào cũng là tất cả sự thật lịch sử của một dân tộc.
Một bản anh hùng ca.- Bia Thủy Môn Đình không chỉ dừng lại ở đó. Ngoài tên gọi Việt Nam, bia Thủy Môn Đình còn có một đôi câu đối khá đặc biệt nằm dọc hai bên bia: “An trấn Thủy Môn Đình, đình tiền thủy lục. Tỏa thược Thiên Nam giới, giới hạn thiên thư”. (Giữ yên đình Thủy Môn, trước đình có đường thủy, đường bộ. Khóa chặt cõi trời Nam để giới hạn ranh giới bầu trời). Như thế có nghĩa nó không chỉ khẳng định địa giới mà cách đây hơn 300 năm còn xác định cả không phận của đất nước.
Chính vì thế mà trong bức thư đề ngày 28-8-1992 gửi đến Vụ Bảo tồn Bảo tàng, Bộ VHTT, tôi có đề nghị cần có biện pháp bảo vệ tấm bia Thủy Môn Đình cùng một số tấm bia khác có danh xưng Việt Nam. Riêng bia Thủy Môn Đình cần đưa về giữ ở Viện Bảo tàng quốc gia. Tại Công văn 2816 ngày 7-9-1992, GS Lưu Trần Tiêu, lúc đó là Vụ trưởng Vụ Bảo tồn Bảo tàng, nay là Thứ trưởng Bộ VHTT đã ghi nhận vấn đề trên.

Nguyễn Phúc Giác Hải

http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/bia-thuy-mon-dinh-ban-hung-ca-dat-nuoc-87219.htm











      Bia Thủy Môn Đình là một trong số những di vật lịch sử văn hóa có giá trị đặc biệt hiện đang lưu giữ, trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn.
Thuy mon dinh
     Bia do ông Nguyễn Đình Lộc - một viên quan triều Lê hưng công tạo dựng tại đình Thủy Môn (xứ Đồng Đăng, châu Văn Uyên) vào năm Cảnh Trị thứ 8 (1670), đời vua Lê Huyền Tông. Dòng họ Nguyễn Đình của ông vốn là dòng họ danh giá - một trong "thất tộc thổ ty" (bảy dòng họ thổ ty) nổi tiếng của Xứ Lạng. Ông Nguyễn Đình Lộc lúc đó mới ngoài 20 tuổi đã được phong chức Đô Tổng Binh sứ Ty, Bắc quân Đô đốc phủ, hữu Đô đốc tướng, Thao quận công - làm nhiệm vụ trông coi, trấn giữ vùng biên giới ở Lạng Sơn và tiếp đón các sứ thần của hai nước Việt Nam, Trung Quốc. Đây là một trọng trách hết sức lớn lao đối với một người trẻ tuổi. Đình Thủy Môn chính là nơi là việc của các phiên thần họ Nguyễn.
     Khi làm việc ở đây, ông nhận thấy nhân dân bản xứ chưa thực sự đoàn kết, còn tranh giành kìm hãm nhau, nha lại tự tung tự tác, mỗi người một phách... Với trọng trách được giao, ông đã hết sức khuyên giải mọi người, bắt tay vào giải quyết mâu thuẫn, ổn dịnh tình hình, đưa mọi việc vào phép tắc. Từ đó, mâu thuẫn được giải quyết, phong tục dần ổn định, thế sự cải đổi theo chiều hướng tốt đẹp. Mọi việc yên ổn, Ông bèn lập bia ghi lại những việc đã làm để truyền cho đời sau, nhắc nhở con cháu biết đoàn kết, gìn giữ phát huy truyền thống dòng họ để chung tay bảo vệ biên cương Tổ quốc.
     Sau này, khi đình Thủy Môn bị hư hỏng trở thành phế tích, tấm bia này vẫn nằm ở địa điểm cũ của ngôi đình nhưng đã bị đổ, rời khỏi phần đế bia. Năm 1972, một chuyên viên Bộ Ngoại giao ở Hà Nội đi công tác từ Nam Ninh (Trung Quốc) về qua đây có nhìn thấy tấm bia và biết được nội dung của tấm bia, trong đó có hai chữ "Việt Nam".
     Tháng 4 năm 1991, nhà khoa học Nguyễn Phúc Giác Hải đã có bài viết "Tên gọi Việt Nam có từ bao giờ?" đăng trên tạp chí Người đại biểu Nhân dân công bố quá trình nghiên cứu lịch sử tên gọi "Việt Nam". Theo đó, tên gọi "Việt Nam" xuất hiện sớm nhất vào thế kỷ 16 chứ không phải đến thời Nguyễn (năm 1804) mới có. Ông cũng chứng mình bằng thư tịch cổ, các di vật có sự xuất hiện của hai chữ "Việt Nam" từ năm 1804 trở về trước. Lúc này, đồng chí Cán bộ Ngoại giao nọ liền cung cấp cho ông thông tin về tấm bia có hai chữ "Việt Nam" tại Đồng Đăng, tạo tác năm 1670. Ngay sau đó, Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải đã cùng nhà Sử học Nguyễn Minh Tường (Viện Sử học), chuyên gia Hán Nôm Hoàng Giáp (Viện Nghiên cứu Hán - Nôm) lên Đồng Đăng tìm lại tấm bia. Bia được được phát hiện trong một bụi cây tại sườn đồi Phja Mạt - phía bên phải Quốc lộ 1A từ Lạng Sơn lên Đồng Đăng (thuộc khu Vườn Sái, Thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn), cách đường Quốc lộ 1A cũ khoảng 50m. Vào thời điểm đó, giới sử học đã coi sự kiện này là một phát hiện lịch sử quan trọng. Giáo sư Phan Huy Lê - Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã đánh giá rất cao việc phát hiện tấm bia này và ghi nhận đây là một di vật "đặc biệt có giá trị" ("Về tên nước và Quốc hiệu Việt Nam". Tạp chí Xưa và Nay số 144, tháng 7/2003).
     Sau khi dập, dịch nội dung tấm bia, nhận thấy tầm quan trọng và ý nghĩa đặc biệt của tấm bia (có chữ "Việt Nam" ở ngay phần đầu của tấm bia) - được sự đồng ý UBND tỉnh Lạng Sơn, tháng 5 năm 1991, Bảo tàng Tổng hợp Lạng Sơn (nay là Bảo tàng Lạng Sơn) đã mang về lưu giữ tại kho của Bảo tàng để gìn giữ, phục vụ nghiên cứu, trưng bày. Tại địa điểm phát hiện bia đã dựng một nhà bia có phiên bản của tấm bia này để phục vụ khách tham quan. Địa điểm di tích này đã được xếp hạng di tích Lịch sử Văn hóa cấp Tỉnh tháng 10 năm 2002 theo quyết định số 41/2002/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
     Bia Thủy Môn đình là tấm bia thể khối được làm từ đá núi, tạo tác đẹp và rất công phu - mang đặc trưng điển hình của nghệ thuật tạo hình thời Lê Trung Hưng (thế kỷ 17 - 18). Bia có hình khối hộp chữ nhật dẹt, kích thước lớn (cao 130cm, rộng 84cm, dày 25 cm). Ở mặt trước, chính giữa trán bia (hình bán nguyệt) trang trí chạm nổi hình mặt trời, bao quanh là mây lửa. Thân bia có hình chữ nhật, trên cùng ghi tên bia bằng chữ Hán, viết theo kiểu đại tự - bố trí theo chiều ngang: "Thể tồn bi ký" (Bia gìn giữ bảo tồn truyền thống tộc họ). Ở đầu và cuối của dòng chữ này chạm hình hai con chim phượng trong tư thế nhìn nghiêng đang sải cánh, kích thước giống hệt nhau chầu hai bên.
Hai cạnh bên của thân bia có đôi câu đối được viết theo kiểu cỡ chữ to:
Phiên âm: "An trấn Thủy Môn đình đình tiền thủy lục
Tỏa thược Thiên Nam giới giới hạn thiên thư"
(Dịch nghĩa: Gìn giữ đình Thủy Môn
trước đình đường quanh suối lượn
Khóa chặt ải Nam Quan
quan ải phân định sách trời)
     Ngay dưới đôi câu đối này chạm nổi hình đôi hạc (cao 40cm, giống hệt nhau về hình dáng, kích thước) trong tư thế chân dứng thẳng, đầu ngẩng cao, mỏ ngậm cành sen đứng trên lưng rùa, đối xứng nhau - tượng trưng cho sự trường tồn, bền vững. Phần lớn diện tích mặt trước của bia khắc chìm chữ Hán bài ký với chủ đề "Liên kết để tồn tại". Nguyễn Đình Lộc đã ghi lại những việc đã làm đúng đắn, tốt đẹp của mình để đoàn kết các tầng lớp nhân dân chung tay chung sức bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc. Sát chân bia có một đường diềm trang trí cúc dây. Bia có chân mộng hình chữ nhật (dài 60 cm, rộng 20 cm, cao 17 cm) liền với thân dùng để lắp khớp vào đế bia.
     Hai mặt bên của tấm bia có các hình trang trí chạm nổi: bên trái là hình hổ phục, bên phải là hình rồng chầu trong một khung bo hình chữ nhật - tượng trưng cho quyền uy và sức mạnh. Các vật linh này đều được tạc ở tư thế động, có đuôi hướng lên trên dáng vẻ uy nghi, dũng mãnh. Xung quanh điểm xuyết hình mây đao lửa làm tăng vẻ linh thiêng của các vật linh.
     Mặt sau của bia tạo tác khá đơn giản, chỉ có chữ mà không có hình trang trí. Chính giữa khắc chìm ba chữ Hán viết theo lối đại tự, bố trí theo chiều dọc: "Thủy Môn Đình" (Đình Thủy Môn). Bên cạnh ghi tên những người đã đóng góp dựng bia.
     Bia Thủy Môn Đình là một trong số những tấm bia thể khối được tạo tác đẹp nhất của Lạng Sơn hiện còn. Điều làm nên giá trị đặc biệt của tấm bia chính là nội dung văn bia chứa đựng tư liệu vô cùng quý giá về tên gọi, chủ quyền lãnh thổ của đất nước ở nơi địa đầu Tổ quốc. Theo các nhà nghiên cứu, hiện nay ở nước ta mới phát hiện được 7 tài liệu, hiện vật, thư tịch cổ có hai chữ "Việt Nam" có ý nghĩa như danh xưng của đất nước từ trước năm 1804.
Trong văn bia có câu: "Việt Nam hầu thiệt. Trấn Bắc ải quan". (Có nghĩa là: Đây là cửa ngõ và yết hầu của nước Việt Nam, là ải quan trấn giữ phương Bắc).
     Hai chữ "Việt Nam" trong tấm bia này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng chứng minh tên nước Việt Nam đã có từ lâu, chứ không phải theo một số tài liệu cho rằng tên nước Việt Nam mới xuất hiện từ thời nhà Nguyễn - khi vua Gia Long (Nguyễn Ánh) lên ngôi năm 1802, thống nhất đất nước mới đổi Quốc hiệu là Việt Nam vào năm 1804. Hơn nữa, hai chữ này lại xuất hiện ở ngay phần đầu của tấm bia được dựng bởi Bắc quân Đô đốc xứ Lạng Sơn nên có ý nghĩa hành chính rõ rệt, thể hiện rõ ý nghĩa Quốc gia và danh xưng của tên gọi "Việt Nam". Đây là lần đầu tiên trong bia biên giới khẳng định rõ ràng vùng đất Lạng Sơn xưa là cửa ngõ, yết hầu, là ải quan trấn giữ phương Bắc của nước Việt Nam. Điều này, các sách chính sử trước đó chưa từng ghi chép. Bia Thủy Môn Đình dựng ở nơi cửa ngõ của đất nước (chỉ cách cửa khẩu Hữu Nghị ngày nay 2 km), là bằng chứng hùng hồn khẳng định chủ quyền lãnh thổ của đất nước ở nơi địa đầu Tổ quốc. Đây là tư liệu quý giúp cho việc nghiên cứu lịch sử, hệ thống quản lý hành chính ở nước ta nói chung và Lạng Sơn nói riêng dưới thời phong kiến; Góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu xác định nguồn gốc và tên gọi của Tổ quốc ta trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử. Nhiều người đã ví bia Thủy Môn đình như một bản hùng ca của đất nước. Đáp ứng đủ các tiêu chí của một bảo vật Quốc gia theo quy định của luật Di sản Văn hóa: là hiện vật gốc độc bản, có hình thức độc đáo và là hiện vật có giá trị lịch sử đặc biệt, bia Thủy Môn đình đã được Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn lập hồ sơ khoa học, trình Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh làm thủ tục đề nghị công nhận bảo vật quốc gia. Ngày 14/1/2015, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 53/QĐ-Ttg công nhận bảo vật quốc gia đợt 3 đối với 12 hiện vật và nhóm hiện vật – trong đó có bia Thủy Môn đình. Đây là bảo vật quốc gia đầu tiên của tỉnh Lạng Sơn, một trong 79 bảo vật quốc gia của đất nước. Bia Thủy Môn đình xứng đáng là niềm tự hào lớn của di sản văn hóa xứ Lạng./.
                                                                                                
Một số hình ảnh Bia Thủy Môn Đình
2015-02-10 105036

2015-02-10 105259
                                                 2015-02-10 110235                                              
                                                                                                     Bài và ảnh : Chu Quế Ngân
http://baotanglangson.vn/index.php/component/k2/item/351-bia-th%E1%BB%A7y-m%C3%B4n-%C4%91%C3%ACnh-ni%E1%BB%81m-t%E1%BB%B1-h%C3%A0o-c%E1%BB%A7a-di-s%E1%BA%A3n-v%C4%83n-h%C3%B3a-x%E1%BB%A9-l%E1%BA%A1ng


Bia Thuỷ môn đình (1670)
“Việt Nam hầu thiệt. Trấn Bắc ải quan”

Bia Thủy Môn Đình, dấu ấn chủ quyền nơi phên dậu tổ quốc
Bia Thủy Môn Đình, dấu ấn chủ quyền nơi phên dậu tổ quốc
Công nhận 12 bảo vật quốc gia

Tổng quan

Sự có mặt của hai chữ Việt Nam trong tấm bia Thủy Môn Đình có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì tấm bia chỉ cách ải Nam Quan (nay là cửa khẩu Hữu Nghị) có 2km. Nó lại dựng lên bởi “Bắc quân Đô đốc xứ Lạng Sơn” nên tấm bia có ý nghĩa hành chính rõ rệt. Như vậy, từ hơn 3 thế kỷ trước đây, tên gọi Việt Nam đã chính thức nằm trên tấm bia hiên ngang nơi quan ải, khẳng định chủ quyền, lãnh thổ của đất nước.


Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua và cho đổi tên nước là Việt Nam. Sách Đại Nam thực lục chép: “Giáp Tý, Gia Long năm thứ 3 (1804), tháng 2, ngày Đinh Sửu, đặt Quốc hiệu là Việt Nam, đem việc cáo Thái Miếu. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài”. Đây là lần đầu tiên hai chữ “Việt Nam” được sử dụng với tư cách Quốc hiệu, được công nhận hoàn toàn về ngoại giao. 

Tuy nhiên, hai chữ “Việt Nam” đã xuất hiện khá sớm trong lịch sử nước ta. Ngay từ thế kỷ XIV, hai chữ “Việt Nam” xuất hiện lần đầu tiên ở tiêu đề cuốn sách “Việt Nam thế chí” (ghi chép về các đời ở Việt Nam) của Trạng nguyên Hồ Tông Thốc  .

Trên nhiều tấm bia, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy hai chữ “Việt Nam”, như trên tấm bia khắc ở chùa Bảo Lâm (Chí Linh, Hải Dương) năm 1558, có câu “Việt Nam đại danh lam bất tri kỳ cơ”. Tuy nhiên, hiện nay chùa Bảo Lâm và tấm bia hiện nay đã mất, chỉ còn lại bản dập văn bia lưu giữ ở Viện Hán Nôm.Tấm bia thứ hai là tấm bia thời Mạc tại chùa Cam Lộ (Đào Xá, Phú Xuyên, Hà Tây (cũ)), năm 1590, có câu “Chân Việt Nam chi đệ nhất”. Chùa Cam Lộ không còn nhưng tấm bia vẫn được đặt trong một cái am nhỏ.

Tấm bia thứ ba có hai chữ Việt Nam là tấm bia dựng năm 1664 tại chùa Phúc Thành, xã Mộ Đạo, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Chùa Phúc Thành và tấm bia  nay không còn nữa nhưng bản dập văn bia vẫn còn lưu giữ tại Viện Hán Nôm.

Trước đây, bia được dựng trong Đình Thuỷ Môn, nên thường gọi là bia Thuỷ Môn Đình, do quan Đô Tổng binh, Bắc quân Đô đốc phủ Lạng Sơn Nguyễn Đình Lộc – lúc đó làm nhiệm vụ trông coi, trấn giữ vùng biên giới ở Lạng Sơn và tiếp đón các sứ thần của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, dựng năm Cảnh Trị Bát niên (tức năm 1670). Đình Thuỷ Môn vừa là nơi làm việc,vừa là nơi thờ tự của dòng họ Nguyễn Đình tại Đồng Đăng. Sau này, khi đình Thủy Môn bị hư hỏng trở thành phế tích, tấm bia vẫn nằm ở địa điểm cũ nhưng đã bị đổ, rời khỏi phần đế bia.

Đây là bia đá xám hình khối hộp chữ nhật dẹp, thân bia cao 1,5m; rộng 0,82m; dày 0,18m. Trán bia hình bán nguyệt cao 0,2m, ở mặt trước trán bia trang trí chạm nổi “Lưỡng long chầu nhật” và hình mặt trời, bao quanh là mây lửa. Mặt trước khắc Hán tự "Thể tồn bi ký", nghĩa là Bia gìn giữ bảo tồn truyền thống tộc họ. Ở đầu và cuối của dòng chữ này chạm hình hai con chim phượng trong tư thế nhìn nghiêng đang sải cánh, kích thước giống nhau chầu hai bên. Suốt độ dày của bia từ chân đế đến đỉnh có hình trang trí một bên Rồng chầu và bên kia Hổ phục, với phần đuôi các con vật hướng lên trên, xung quanh điểm xuyết hình mây đao lửa. Diềm bia soi gờ nổi xung quanh, hoa văn trang trí loại dây lá. Hai cạnh bên của thân bia là đôi câu đối được viết theo kiểu cỡ chữ to, phiên âm: 

An trấn Thuỷ Môn đình đình tiền thuỵ lục.
Tỏa thược Thiên Nam giới giới hạn thiên thu.

Dịch nghĩa:
Gìn giữ đình Thuỷ Môn, trước đình đường quanh suối lượn.
Khoá chặt ải Nam Quan, quan ải phân định sách trời.

Ngay dưới đôi câu đối chạm nổi hình đôi hạc (cao 40cm, giống hệt nhau về hình dáng, kích thước) tư thế chân đứng thẳng, đầu ngẩng cao, mỏ ngậm cành sen đứng trên lưng rùa, đối xứng nhau. Sát chân bia có một đường diềm trang trí cúc dây. Bia có chân mộng hình chữ nhật cao 0,17m; dài 0,6m;  rộng 0,15m để lắp vào đế bia trên lưng một con rùa đá lớn. 

Phần lớn diện tích mặt trước của bia khắc chìm chữ Hán bài ký với chủ đề “Liên kết để tồn tại”. Đô đốc Nguyễn Đình Lộc đã ghi lại những việc làm để đoàn kết các tầng lớp nhân dân chung sức bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc. Mặt sau của bia tạc khá đơn giản, chỉ có chữ mà không có hình trang trí. Chính giữa khắc chìm ba chữ Hán theo lối đại tự, bố trí theo chiều dọc: “Thủy Môn Đình” (Đình Thủy Môn). Bên cạnh ghi tên những người đã đóng góp dựng bia.

Giá trị đặc biệt của tấm bia chính là nội dung văn bia chứa đựng tư liệu vô cùng quý giá về tên gọi, chủ quyền lãnh thổ của đất nước ở nơi địa đầu Tổ quốc. Trong văn bia có câu “Việt Nam hầu thiệt. Trấn Bắc ải quan” nghĩa là Đây là cửa ngõ và yết hầu của nước Việt Nam và là ải quan trấn giữ phương Bắc. Vách đá giữa trời đất, quận sâu nơi biên giới. Ấp thiêng xứ Đồng Đăng.

Toạ độ

Hình ảnh [xem cả trang] [Google Images]




 © Hiện tại bia đã được dời về bảo tàng Lạng Sơn




 © Hai chữ "Việt Nam" trên bia Thủy Môn Đình



Dũng học tiếng Anh ở Hà Nội

Câu chuyện thực, của em Dũng - con trai cô Trần Thị Vinh ở Viện Sử học.

Cô Vinh là một trong những nhà sử học có nhiều nghiên cứu về vương triều Mạc thời kì Thăng Long - Dương Kinh. Một cuốn sách mới của cô đã được điểm ở đây.

Dưới là tâm sự thực, của cô, về việc học tiếng Anh của Dũng. 

Mình thì biết Dũng từ lúc em còn bé tí ti, nhà em khi đó chỉ là một khoảng ngăn trong một căn phòng chung ở tầng 2 nhà sau của Viện Sử học. Đó cũng là một khoảng thời gian mình gắn bó với Viện Sử.

Lấy từ Fb Trần Thị Vinh.



---




Thị Vinh Trần



Nhờ có cái bằng tiếng Anh Quốc tế IELTS (7.5), con trai được nhận Hồ sơ vào phỏng vấn để làm TEACHING ASSITANT cho Tổ chức Giáo dục & Đào tạo APOLLO tại Việt Nam. Một Trung tâm Giáo dục và Đào tạo tiếng Anh tuyệt vời cho lứa tuổi thanh thiếu niên mà ngay từ bé con trai từng mơ ước nhưng mẹ không đủ khả năng về tài chính. Con trai đành phải học Tiếng Anh ở trường bình thường với những thày cô bình thường. Rồi cũng đi thi bình thường như mọi người học ở các Trung tâm Anh ngữ nổi tiếng khác và rồi cũng được tấm bằng không tồi, để được APOLLO nhận vào làm trợ giảng qua vòng phỏng vấn bằng tiếng Anh. Mẹ bảo, khi xưa con không được học vì mẹ nghèo, nhưng sau này nhất định con phải cho con của con vào học ở Apollo để trả “món nợ” mà mẹ đã từng nợ con. 

Con trai đã đến làm trợ giảng cho một giáo viên người nước ngoài, chuyên dạy những lớp học tiếng Anh cho con em Việt Nam. Mẹ không vui vì con được nhận vào làm để kiếm thêm thu nhập khi con mới chưa đầy 19 tuổi, đang học ĐH năm thứ nhất mà vui vì con được bước vào trải nghiệm cuộc sống. Xem hàng loạt quy chế của Apollo về thời gian đến – đi phải trước và sau 15 phút của lớp học, trang phục ngoài áo của Apollo, thì không quần bò, không quần sóc, đầu tóc gọn gàng không nhuộm, không cắt khác người, phong cách, ăn nói, công việc vv… thì đây đúng là nơi “trường đời” mà mẹ có dạy cũng không thể nào bằng cuộc đời sẽ dạy cho con. Tập làm gì chứ tập làm giáo viên thì tuyệt thật rồi, từ lễ phép, ăn nói, giờ giấc, chỉ dẫn học sinh, đến kiểm tra bài vở, đánh giá nhận xét học sinh giúp giảng viên chính, trợ giảng v.v … nếu không hiểu tốt ngôn ngữ thì không làm được.

Cũng may mà ông trời đã thương, vì con trai hàng ngày còn bận học ở trường ĐH, lại chỉ đi xe đạp thôi nên được Tổng Giám đốc Apollo phân đến làm Teaching Assitant tại Cơ sở Apollo số 5 Liễu Giai, cách nhà chỉ khoảng hơn 100 mét đi bộ. Như vậy, mẹ cũng yên tâm là con không phải tham gia giao thông thêm một lần nữa vào giờ tan tầm ngoài đạp xe đến trường ĐH hàng ngày.



Thị Vinh Trầnさんの写真


Thứ Hai, 9 tháng 5, 2016

Sự khác biệt trong cách dạy con của Hoàng gia Nhật và "gia đình có điều kiện" Trung Quốc

Giả sử thay "gia đình có điều kiện Việt Nam" vào chỗ "gia đình có điều kiện Trung Quốc" thì có lẽ vẫn đúng.

Nhiều điều muốn nói về Việt Nam, gần đây, tựa như hay được nói tránh đi thành Trung Quốc. Một lối uyển ngữ hóa của báo chí Việt hiện nay.


Bài trên VNN.


---



Sự khác biệt trong cách dạy con của Hoàng gia Nhật và "gia đình có điều kiện" Trung Quốc


Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên khi nhận ra sự khác biệt một trời một vực giữa cách dạy con của Hoàng gia Nhật Bản và phương pháp giáo dục của nhiều "gia đình có điều kiện" ở Trung Quốc.
Người ta vẫn nói, Nhật Bản là một đất nước thần kỳ với những quan niệm đi ngược hẳn lại với nhiều quốc gia khác trên thế giới. Có lẽ chính sự khác biệt ấy đã khiến một đất nước ít tài nguyên và hay gặp thiên tai như Nhật Bản phát triển được như ngày hôm nay.
Không giống với các bậc phụ huynh ở nhiều quốc gia châu Á khác, đặc biệt là những gia đình nhiều tiền lắm của, lúc nào cũng nâng niu bao bọc con cái như bảo vật, người Nhật lại có những phương pháp dạy con vô cùng đặc biệt để con có thể tự lập ngay từ khi còn bé.
Vậy các đại gia ở đất nước mặt trời mọc dạy con như thế nào nhỉ? Hãy nhìn vào cách Hoàng gia Nhật, biểu tượng của quyền lực và sự vinh hoa phú quý ở nước này dạy Công chúa Aiko, con gái của Hoàng Thái tử nên người và so sánh với phương pháp giáo dục của một gia đình thuộc dạng có điều kiện bất kỳ ở Trung Quốc, chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên đấy!
1. Tính tự lập
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản 

Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản 

Người ta có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh Công chúa Aiko tự đeo cặp sách hay tự cầm ô tung tăng bước vào cổng trường. Nhiều người không khỏi thắc mắc, đường đường là Công chúa của một đất nước, vậy mà khi đến trường lại phải tự đeo cặp sách trên vai ư? Thế mấy ông vệ sĩ đi theo để làm gì nhỉ? Một người có thân phận cao quý như Công chúa với cả đám tùy tùng theo hầu đằng sau thì không nên làm những việc nhỏ nhặt này mới phải chứ!
Tuy nhiên, đối với người Nhật, gây phiền phức cho những người xung quanh là một việc không nên, vì vậy, trẻ em Nhật ngay từ nhỏ đã được giáo dục phải tự làm những việc của mình, tránh làm ảnh hưởng đến người khác, cho dù chỉ là việc nhỏ nhặt nhất như đeo cặp sách đến trường.
Trong khi đó, tại Trung Quốc, hàng ngày người ta đều được chứng kiến cảnh tượng những người già che ô hay cầm cặp sách cho con cháu mỗi khi đến trường. Chính sự bao bọc thái quá của các bậc phụ huynh nước này đã tạo cho lũ trẻ thói quen sống ỷ lại, dựa dẫm vào người lớn.
2. Con đường đến trường
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Gia đình Hoàng Thái tử Nhật cho rằng, việc đưa đón Công chúa đi học sẽ hình thành lối suy nghĩ "mình là số 1, mình là người được ưu tiên" trong tâm hồn trẻ thơ và kéo giãn khoảng cách giữa Công chúa với các bạn cùng trang lứa, gây ra những ảnh hưởng không tốt tới việc hình thành nhân cách của cô bé.
Chính vì vậy, Công chúa sẽ không được đưa tới tận cổng trường mà chỉ đi đến một khu vực gần trường học rồi tự đi bộ vào lớp. Người dân Nhật không mấy ngạc nhiên khi thấy Công chúa nước mình cuống quýt chạy vào trường cho kịp giờ lên lớp, đây cũng là một minh chứng cho thói quen làm mọi việc cực kỳ đúng giờ của người dân xứ Phù Tang.
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Còn tại Trung Quốc, mỗi giờ vào lớp hay tan học, những khu vực gần cổng trường luôn trong tình trạng tắc nghẽn, bởi có hàng đoàn xe của các vị phụ huynh đang nối đuôi nhau chờ đưa đón con mình. Theo những vị phụ huynh này, để con cái tự mình đi đến trường là một việc làm nguy hiểm, đồng thời vì muốn con mình "mưa không đến mặt, nắng chẳng đến đầu", thế nên họ chỉ có thể yên tâm khi tự mình đưa đón con đi học. Lâu dần, những đứa trẻ được bố mẹ đưa đón mỗi ngày sẽ có sự so sánh với các bạn khác cùng cảnh ngộ và hình thành suy nghĩ: phải được đưa đón bằng xe đẹp, nếu không sẽ trở thành trò cười cho những người xung quanh.
3. Bồi dưỡng năng khiếu
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Người Nhật cực kỳ chú trọng việc bồi dưỡng năng khiếu và phát triển tiềm năng cho con trẻ. Các thầy cô giáo ở Nhật sẽ tìm cách khuyến khích học sinh của mình tham gia vào những câu lạc bộ phù hợp với khả năng. Có lẽ người dân nước này đều biết, Công chúa của mình rất chăm chỉ luyện thư pháp mỗi khi có thời gian rảnh rỗi, thay vì cắm cúi vào những thú vui vô bổ như nhiều vị tiểu thư đài các trên thế giới.
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Trong khi đó, tại Trung Quốc, đa số các bậc phụ huynh lại luôn muốn ép con cái phát triển toàn diện về mọi mặt, khiến cho lũ trẻ rơi vào trạng thái học hành quá tải. Tuy nhiên, không giống như người Nhật, sau giờ học thường hướng con trẻ vào những hoạt động bổ ích cho trẻ thơ hoặc rèn giũa bản thân, người Trung Quốc lại để con cái tự do vui chơi và làm những việc mình thích, kể cả việc ngồi dán mắt vào màn hình chơi game suốt ngày.
4. Sự quan tâm từ phía gia đình
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Trong hầu hết các gia đình giàu có tại Trung Quốc, bố mẹ quanh năm suốt tháng chỉ biết cắm cúi kiếm tiền hay dành phần lớn thời gian cho những cuộc gặp xã giao mà thờ ơ với con cái, bởi vì rất nhiều người cho rằng, chỉ cần chu cấp thật nhiều tiền là lũ trẻ có thể sống một cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc.
Còn trong gia đình Hoàng gia Nhật, cho dù phải đối mặt với trăm công nghìn việc mỗi ngày, Thái tử và Thái tử phi vẫn luôn cố gắng dành thời gian bên con trong những cột mốc quan trọng của cuộc đời cô bé, cùng con trưởng thành. Họ không bao giờ vắng mặt trong các buổi lễ khai giảng, các buổi họp phụ huynh, các buổi lễ tốt nghiệp, hay thậm chí là đại hội thể thao của con gái. Có lẽ họ hiểu được rằng, sự yêu thương, quan tâm phải xuất phát từ trái tim chứ không phải cứ dùng tiền là mua được.
5. Đặc quyền trong bữa ăn trưa ở trường
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Chắc chắn mọi người đều nghĩ rằng cơm trưa của Công chúa sẽ toàn là những món sơn hào hải vị, khác xa so với bữa ăn của các học sinh bình thường. Thế nhưng, sự thật là mỗi ngày Aiko đều mang theo cơm hộp do mẹ chuẩn bị, gồm toàn những món ăn bình dân quen thuộc của người Nhật. Ngay cả khi xuất thân trong gia đình danh giá, Aiko cũng sống một cuộc sống vô cùng giản dị.
Trong khi đó, những gia đình giàu có ở Trung Quốc lại luôn muốn con mình phải được đối xử thật đặc biệt, và họ chứng minh "đẳng cấp" bằng cách không tiếc tiền cho con mua những bữa ăn đắt tiền mà các bạn học bình thường chỉ có thể nhìn ngắm từ xa.
6. Công chúa cũng cần phải lễ phép giống như mọi người
Nhắc đến Hoàng gia, người ta sẽ nghĩ ngay đến quyền lực, và tất nhiên, ai cũng cho rằng đi kèm với thế lực sẽ là những đặc quyền mà những người thường dân ao ước cả đời cũng chẳng thể có được. Tuy nhiên, khác với suy nghĩ của nhiều người, Công chúa Nhật Bản không hề làm ra vẻ cao ngạo hay tỏ thái độ của bậc "bề trên".
Cũng giống như bao đứa trẻ khác ở Nhật, Công chúa Aiko được dạy dỗ cách cư xử theo đúng phép tắc và luôn giữ lễ nghĩa trong mọi hoàn cảnh. Thậm chí, Công chúa Aiko cho rằng, càng có thân phận cao quý thì lại càng phải lễ phép, bởi vì cô phải trở thành một tấm gương sáng cho người dân Nhật Bản noi theo.
Ngược lại, rất nhiều "cậu ấm cô chiêu" ở Trung Quốc lại tự cho mình đặc quyền của một ông hoàng và luôn tỏ ra khinh thường những người không cùng "đẳng cấp" với mình. Có lẽ, đối với những đứa trẻ con nhà giàu này, có tiền là có tất cả.
Sự khác biệt trong cách dạy con của Nhật bản và Trung Quốc, nuôi dạy con, sự khác biệt trong nuôi dạy con của người Nhật, cách dạy trẻ em Nhật Bản
Chính nhờ nền giáo dục khắt khe và khiêm nhường trên mà đất nước Nhật Bản mới phát triển được như ngày hôm nay và trở thành niềm ước ao của biết bao người. Lối sống giản dị của Công chúa Aiko là sự phản ánh chân thực nhất về Hoàng gia Nhật Bản và có lẽ đây chính là nguyên nhân khiến cho người dân đất nước mặt trời mọc cực kỳ ủng hộ Thiên hoàng và chế độ Quân chủ lập hiến đã tồn tại suốt bao nhiêu năm qua ở xứ sở của mình.
(Theo Trithuctre)

http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/294345/su-khac-biet-trong-cach-day-con-cua-hoang-gia-nhat-va-gia-dinh-co-dieu-kien-trung-quoc.html