Hiển thị các bài đăng có nhãn nhân-loại-học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhân-loại-học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2016

Bút kí học thuật : Phân tích diễn ngôn (bài Lương Văn Hy)


Bài từ trang sociallife.

---




GS Lương Văn Hy là nguyên trưởng khoa Nhân học, Đại học Toronto, Canada. Trong vài thập kỷ gần đây ông thường về Việt Nam nghiên cứu và giảng dạy ở các trường đại học, các viện nghiên cứu về các chủ đề về ngôn ngữ, vốn xã hội, xuất cư, an sinh và kinh tế hộ gia đình. Với chương trình Café học thuật lần này, giáo sư sẽ trình bày về chủ đề phân tích diễn ngôn.

Từ “diễn ngôn”, “phân tích diễn ngôn” (discourse, discours) được sử dụng rất nhiều trong học thuật của Tây phương, trong khoảng độ bốn thập kỷ vừa qua. Diễn ngôn ở đây có thể là lời nói, có thể là ngôn từ trong văn bản và, trong lý thuyết của nhà triết học Michel Foucault, cũng có thể là kiến thức đã được thể chế hóa.
Diễn ngôn được các nhà nghiên cứu phân tích nằm trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống: có thể là diễn ngôn giao tiếp hàng ngày trong gia đình, giữa bạn bè và những người thân thuộc; có thể là diễn ngôn trong văn chương hay trong khoa học; có thể là diễn ngôn trong sách giáo khoa hay trong lĩnh vực giáo dục; trong quảng cáo và truyền thông đại chúng; trong những bài diễn văn chính trị, hay trong văn bản hành chánh hay pháp luật, v.v… Khi phân tích diễn ngôn, có rất nhiều những phạm trù khác nhau mà nhà nghiên cứu cần phải lưu tâm đến, gọi là chủ điểm để phân tích. Do đó phân tích diễn ngôn thật sự là một mảng rất đa dạng, trong đó người ta có thể nghiên cứu, có thể ứng dụng, cũng như là quan niệm học thuật của rất nhiều ngành học thuật khác nhau.
Tôi tạm thời chia ra hai cái cách tiếp cận chính trong nghiên cứu diễn ngôn. Một cách tiếp cận là tập trung phân tích, thường ở cấp độ vi mô, cái quy ước mang nặng tính văn hóa xã hội hay là những quy luật có tính phổ quát hơn, những quy luật mà một số nhà nghiên cứu cho là nó vượt ra khỏi cái khung văn hóa xã hội, phổ quát ở những nền văn hóa xã hội khác nhau. Đó là các quy ước, quy luật trong giao tiếp sử dụng ngôn từ. Cách tiếp cận thứ hai là tập trung phân tích diễn ngôn trong mối tương quan với ý thức hệ và quyền lực, nhấn mạnh đến cái mâu thuẫn, có thể ở dạng tiềm năng, trong văn hóa – xã hội – kinh tế – chính trị. Hướng tiếp cận thứ hai này gắn liền với một số lý thuyết mà chúng ta có thể đã nghe nói đến như hậu hiện đại luận, cấu trúc luận, lý thuyết Marxist, v.v… Tóm lại, cách tiếp cận diễn ngôn ảnh hưởng đến việc sử dụng ngôn từ trong lời nói, trong văn bản. Đó là cách tiếp cận tôi nghĩ là phát triển mạnh nhất trong ngôn ngữ học xã hội, trong ngữ dụng học và nhân học ngôn ngữ. Cách tiếp cận thứ hai như vừa nêu phổ biến hơn ở các ngành như văn học, triết học, chính trị học và cả trong nhân học.
Cách tiếp cận tập trung vào ngôn ngữ
Tôi xin trình một cách cơ bản với các bạn cách tiếp cận thứ nhất. Có một cái lý do mà nhiều nhà ngôn ngữ học, gồm cả những nhà ngữ dụng học, và nhà nhân học tập trung vào phân tích diễn ngôn. Một trong những khởi điểm của họ là luận điểm của nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Ferdinand de Saussure, ông tổ của cấu trúc luận. Saussure cho rằng ngôn ngữ học nên tập trung đến ngôn ngữ, chứ không nên chú tâm vào lời nói hay ngôn từ. Ví dụ khi đề cập đến người cha trong vai trò là ngôi thứ ba trong ngôn ngữ Việt Nam có thể gọi là ba hay bố. Nhưng thực ra có những cách đề cập rất khác nhau. Có thể có những cách đề cập về người cha của mình một cách không long trọng bằng, ví dụ gọi là “ông cụ”. Việc lựa chọn giữa gọi là “ba tao”, “ba tôi” hay “ông cụ tôi” là sự lựa chọn trong cảm hứng cụ thể của người nói. Và khi người nói lựa chọn giữa những biến thể trong từ ngữ đó khi đề cập đến một nhân vật cụ thể, người nghe sẽ hiểu ngay là ta đang đề cập đến ai.
Thì Saussure coi đó là một ví dụ cho phạm trù gọi là lời nói. Còn ngôn ngữ, đối với Saussure, có một số quy luật cụ thể. Lấy tiếng Việt làm ví dụ, 100 năm sau có lẽ không ai trong chúng ta còn sống, nhưng tiếng Việt với những quy luật của nó về mặt cú pháp, ngữ nghĩa, hệ thống từ thân tộc, sự phân chia nam nữ rõ ràng, đề cập đến cha hoặc mẹ, đề cập đến quan hệ bên nội và bên ngoại, vẫn còn tồn tại. Trong tiếng Anh chẳng hạn, một số từ thân tộc như “uncle” được dùng chung cho cả “chú”, “bác” lẫn “cậu”, họ không phân biệt bên nội và bên ngoại, họ cũng không phân biệt người đó là anh hay em của cha, anh hay em của mẹ. Trong Tiếng Việt thì sự phân biệt đó rất quan trọng. Chúng ta là những người sử dụng ngôn ngữ, một thế kỷ sau không ai còn ở đây cả, nhưng cái ngôn ngữ được Saussure gọi là “sự kiện có tính chất xã hội” (social fact) thì vẫn tồn tại và có những quy luật riêng của nó. Còn cái gọi là ngôn từ lại là cái mà người nói lựa chọn sử dụng ở một thời điểm cụ thể.
Saussure nhấn mạnh đến tầm quan trọng của ngôn ngữ học, ông cho rằng khi chúng ta lựa chọn lời nói sẽ bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố tâm lý, cách diễn đạt và nhiều thứ khác nữa. Do đó Saussure cho rằng không cần quan tâm đến lời nói mà chỉ cần quan tâm đến ngôn ngữ thôi. Bởi vì lời nói có thể sẽ biến dạng tùy vào cảm hứng và tâm lý của người nói, rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến lời nói và Saussure nghĩ rằng ngôn ngữ học không thể hệ thống được hết. Vì thế, luận điểm mà ngày nay chúng ta gọi là diễn ngôn không phải là trọng điểm của ngôn ngữ học.
Nhưng ngôn ngữ học hay một số ngành khoa học xã hội khác như nhân học đặt lại vấn đề là: việc sử dụng ngôn từ hay diễn ngôn đều tuân theo một số quy luật, quy ước cụ thể mà Saussure phải chăng đã coi nhẹ nó. Và ở đây các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội, nhân học ngôn ngữ cũng cho rằng chúng ta phải tìm cách hiểu được tại sao diễn ngôn không ổn định, tại sao cùng một người nói, nhưng lúc thì gọi cha mình là “ba”, lúc lại gọi là “ông già” hoặc “ông cụ”. Tất cả những cái chuyển biến đó cần phải được giải thích để hiểu rõ. Nói chung, trong khoa học xã hội Tây Phương, chủ điểm chung luôn là “làm cách nào để giải thích được hành vi của con người, gồm cả hành vi lời nói”. Do đó, từ thập kỷ 1960 cho đến nay, người ta không ngừng nỗ lực tìm cách giải thích sự lựa chọn của con người trong hành vi và lời nói. Trong đó, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội, ngữ dụng học, nhân học ngôn ngữ quan tâm rất nhiều đến quy ước, mà các quy ước thường mang nặng tính xã hội, hoặc là những quy luật có tính phổ quát hơn.
Yếu tố giới tác động đến cách lựa chọn ngôn từ trong diễn ngôn
Tôi xin đưa ra hai ví dụ: một ví dụ là nghiên cứu nhấn mạnh nhiều đến cái gọi là quy ước ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngôn từ hay là phong cách diễn ngôn; và một thí dụ nữa nhấn mạnh nhiều hơn đến cái gọi là quy ước. Thí dụ đầu tiên là nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học xã hội Deborah Tannen, một nhà nghiên cứu phải nói là rất thành công, sách của bà bán rất là chạy, phải gọi là best-seller ở Mỹ, những người ngoài ngành học thuật vẫn đọc rất nhiều và những người cố vấn tâm lý về vấn đề hôn nhân gia đình đều nói rất nhiều về quyển sách này. Nghiên cứu của Tannen liên quan đến phong cách diễn ngôn của nam và nữ trong giới trung lưu người da trắng ở Mỹ.
Tôi xin bắt đầu bắt đầu bằng một thí dụ dễ hiểu hơn từ quan sát tham dự của Deborah Tannen. Một người phụ nữ tên Eve phải giải phẫu một khối xơ cứng trong nhũ hoa. Sauk hi giải phẫu, bà ta than phiền về vết giải phẫu và cảm thấy chán nản khi nhìn thấy những dấu kim và thẹo ở chỗ giải phẫu đấy. Bà ta than phiền với rất nhiều bạn bè và người trong gia đình. Khi bà than phiền với những người chị hay bạn gái, họ thường trả lời: “I know, when I had operation, I felt the same way”, “I know, it is like your body has been violated.” Tức là: “Tôi biết mà, khi tôi bị giải phẫu tôi cũng thấy như thế thôi”, “Tôi biết là lúc đó mình cảm thấy thân thể của mình bị vi phạm”. Ở đây, những người phụ nữ này diễn đạt sự đồng cảm với Eve. Còn khi bà Eve này diễn đạt cùng một ý tưởng ấy với chồng bà là Mark thì được đề nghị là: “Có gì đâu, đi giải phẫu thẩm mỹ đi thì sẽ hết mấy cái thẹo đó thôi”. Bà Eve cảm thấy rất bực tức, trả lời rằng: “I am not having any more surgery. I am sorry you don’t like the way it looks.” Tức là: “Tôi sẽ không giải phẫu nữa đâu, anh mà không thích vết mổ như thế thì ráng mà chịu thôi”. Hai vợ chồng ở đây đã hiểu lầm nhau. Ông chồng khi nghe lời than của bà vợ thì nghĩ ngay đến cách giải quyết vấn đề. Còn bà vợ than như thế thôi chứ thật ra đâu có muốn đi giải phẫu nữa. Khi nghe ông chồng nói chuyện giải phẫu thẩm mỹ, bà nghĩ rằng ông chồng không thích cái nhũ hoa của bà có thẹo như thế nên khó chịu và nổi giận với ông chồng.
Tannen đã dùng ví dụ này và nhiều ví dụ khác trong nghiên cứu của bà không chỉ để minh họa cho phong cách diễn ngôn, phong cách giao tiếp của tầng lớp trung lưu người da trắng ở Mỹ, mà thực ra bà đang nói đến hai kiểu văn hóa giao tiếp, một là kiểu văn hóa giao tiếp của nam giới, hai là kiểu văn hóa giao tiếp của nữ giới. Theo quan điểm của Tannen thì diễn ngôn của nữ giới nhấn mạnh nhiều hơn đến sự đồng cảm và quan hệ tình cảm, còn ngôn từ của nam giới nhấn mạnh đến giải pháp cho các vấn đề và cũng nhấn mạnh đến cái yếu tố vị thế xã hội (status). Ở đây, Tannen đang tìm cách giải thích là tại sao cũng trong một cảnh huống đó thì chị hay là bạn gái của bà Eve dùng một cách diễn ngôn nhấn mạnh đến sự đồng cảm, còn ông chồng thì lại đi tìm giải pháp cho vấn đề. Yếu tố giới là rất quan trọng. Phong cách diễn ngôn của nam và nữ thực ra đang phản ánh giá trị của nền văn hóa đấy. Ví dụ đối với người nữ, khi diễn đạt sự đồng cảm tức là diễn đạt nữ tính, những giá trị của kiểu văn hóa giao tiếp của nữ giới. Còn phong cách diễn ngôn nhấn mạnh đến giải pháp, đến vị thế xã hội, thì theo Tannen, trong nền văn hóa của người trung lưu da trắng ở Mỹ, nó thể hiện nam tính của người nói.
Sự tác động của duy lý và thể diện đến lựa chọn ngôn từ trong diễn ngôn
Điểm nhấn thứ hai trong cách tiếp cận nhấn mạnh đến các quy ước văn hóa xã hội, các quy luật, để tìm cách lý giải sự biến dạng của diễn ngôn là mô hình nghiên cứu của nhà Nhân học Penelope Brown và nhà ngôn ngữ học Steven Levinson. Đây gọi là mô hình lựa chọn duy lý trong việc giải thích cách lựa chọn ngôn từ trong diễn ngôn. Mô hình của Brown và Levinson dựa trên giả định rằng mọi người nói đều có hai đặc tính, thứ nhất là duy lý (reasonal) và thứ hai là thể diện (face). Duy lý ở đây là người nói có mục đích khi lựa chọn cách nói nào ít thiệt thòi hoặc có lợi hơn cả cho mình. Duy lý theo mô hình của kinh tế học là người mua hay người bán đều làm theo hướng giảm sự thiệt thòi và tăng lợi ích cho mình.
Về thể diện thì con người có hai nhu cầu: một là nhu cầu là không bị cản trờ, hay có thể gọi là nhu cầu về quyền lực, nghĩa là mình muốn gì thì mình đạt được cái đó, không bị người khác cản trở, tạm gọi là nhu cầu quyền lực. Nhu cầu thứ hai là nhu cầu được người khác tán thưởng hay ưa thích, có thể gọi là nhu cầu đồng cảm, tức là những gì mình muốn và thấy quan trọng thì người khác cũng thấy đồng cảm với mình. Ví dụ tôi đang nói chuyện với một bạn sinh viên. Tôi đang nói chuyện rất say mê nhưng bạn sinh viên thì thấy hơi chán, trong bụng muốn chấm dứt cuộc nói chuyện này, chứ ngồi chịu trận thêm hai tiếng nữa thì quá mệt mỏi. Trong bối cảnh đó, trên nguyên tắc bạn sinh viên có thể có một số lựa chọn. Lựa chọn thứ nhất, bạn sinh viên sẽ nói rằng: “Em chả hiểu cái gì cả, chán quá”. Cái đó gọi là nói thẳng, nói tất cả những gì mình suy nghĩ, không che đậy, không có bù đắp, không giấu diếm gì cả, nghĩ gì nói đấy. Cách đó trong bối cảnh Việt Nam, nhất là khi có sự khác biệt trong vị thế xã hội giữa thầy và trò, thì có lẽ là người trò sẽ không nói với thầy những câu như thế.
Ở một thái cực khác, do nói như thế kia thì đụng chạm đến cái sĩ diện của người thầy, nên người sinh viên đó đành “chịu trận”, thầy nói say mê quá thì cứ để thầy nói, khi nào chấm dứt thì mình đi. Chịu trận như vậy cũng có một cái thiệt thòi là mất thời gian, ngồi nghe chán, không hiểu gì cả mà vẫn phải ngồi nghe. Đó là một chiến lược giao tiếp nữa. Nhưng giữa hai thái cực đó cũng có một số chiến lược giao tiếp khác. Một chiến lược khác là nói thẳng như có bù đắp, “Thưa thầy trình độ của em cũng chưa hiểu hết được những điều thầy nói, nhưng mà nghe cũng hay hay. Vấn đề này rất là quan trọng”. Chiến lược này làm nhẹ đi cái ý của người nói, ý là “thôi thầy tha cho em”, nhưng phải có ý tán thưởng rằng cái chủ đề đó cũng hay, lịch sự tán thưởng vấn đề người thầy đang đề cập đến. Đó cũng là hướng tôn trọng quyền lực khi nhấn mạnh vai trò quan trọng của người thầy. Cũng có một chiến lược giao tiếp nữa, trong trường hợp này thì không nói gì cả nhưng cứ độ năm phút lại nhìn đồng hồ một lần. Tuy rằng người sinh viên không nói gì cả nhưng đó là một thông tin gián tiếp, tức là “Em hơi sốt ruột đấy”. Không nói thẳng nhưng đó cũng là một chiến lược giao tiếp nữa.
Brown và Levinson cho rằng cách diễn đạt là do sự lựa chọn của người nói và sự lựa chọn này chịu ảnh hưởng bởi thể diện của cả người nói lẫn người nghe. Nếu trong trường hợp người nghe không phải người thầy, hoặc là một người ngang hàng với mình, thì Brown và Levinson tiên đoán là người nói sẽ chọn những chiến lược khác. Khi có sự khác biệt về vị thế xã hội và quyền lực thì người ta sẽ lựa chọn cách nói gián tiếp hoặc không làm gì cả, chịu trận. Còn nếu người nghe có quyền lực ngang mình hay thấp hơn mình thì có thể lựa chọn cách nói thẳng, không che đậy hay bù đắp gì cả. Brown và Levinson đã giải thích cách thức người ta lựa chọn chiến lược giao tiếp, vì sao lại chọn cách này mà không chọn cách khác. Sự lựa chọn phong cách diễn ngôn chịu sự chi phối mang tính quy ước, không chỉ ở Mỹ hay Việt Nam mà nó phổ quát trong tất cả xã hội loài người, v.v…
GS.TS. Lương Văn Hy
Nguồn: Bút ký cafe học thuật
http://sociallife.vn/cac-cach-tiep-can-chinh-trong-phan-tich-dien-ngon/

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2016

Chung và riêng giữa Tân Sử học và Dân tộc học (tôi viết về Tạ Chí Đại Trường, năm 2010)

Bài đã viết từ lâu, khoảng 6 - 7 năm về trước. Đã in năm 2010, sau đó đăng lại trên mạng Da Màu (ở đây).

Khác với một số bản thảo liên quan đến sử học, riêng bài này, không có điều kiện trao đổi với ông Tạ. Bởi lúc đó, ông Tạ báo là sức khỏe không tốt (một bài khác về cùng chủ đề Tứ Vị Thánh Nương ở Nghệ An công bố trước bài này, thì trao đi đổi lại nhiều lần).

Về bản toàn văn, nếu trên mạng thì đọc ở Da Màu. Dưới là đoạn viết về cách tiếp cận Sử học (Tân Sử học) của Tạ Chí Đại Trường, cũng là chỗ chung và chỗ riêng với Dân tộc học - Nhân loại học Văn hóa của tôi.


Nguyên văn:

"

Như đã trình bày ở trên, các ghi chép thực tế và có chiều sâu về Bà Chúa/ Cửa Chúa của Đắc Lộ với những niên đại biên soạn và xuất bản được xác định rõ ràng là những tư liệu vô cùng quí giá cho nghiên cứu (lịch sử, lịch sử tôn giáo). Tuy nhiên, chúng tôi không sử dụng chúng chỉ đơn thuần là tài liệu lịch sử, mà muốn khai thác những giá trị dân tộc chí ẩn chứa trong đó, tức là xem chúng như những dân tộc chí được hình thành từ những ghi chép thực địa cần mẫn và tinh tường của giáo sĩ Đắc Lộ. Về cụ thể, bằng cách đọc lại như trên trước khối tư liệu vốn không hề xa lạ với bạn đọc, nhất là với các linh mục công giáo, chúng tôi đi đến một kết luận khác với các nghiên cứu đi trước, rằng: Cửa Chúa trong ghi chép của Đắc Lộ đích thực là (và chỉ là) Cửa Cờn hay Cửa Lạch Cờn[31] (hiện ở tại xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An). Đó là một cửa bể gắn bó một cách duyên cớ với lữ trình truyền giáo của Đắc Lộ ở Đàng Ngoài hồi thế kỉ XVII.

Cuối cùng, cần thiết nói rằng, điều chúng tôi quan tâm đến lai lịch/truyền thuyết của TVTN, tức của Bà Chúa, không phải là việc truy tìm đâu là lai lịch đúng giữa các nguồn tư liệu, mà là hướng đến việc sẽ nắm bắt sự lưu chuyển của lai lịch ấy qua trục thời gian, rút cục là để có thể nhìn thực tại đương đại ở một bình diện sâu sắc hơn. Sự lưu chuyển của truyền thuyết, bản thân nó đã là lịch sử, nhưng quan trọng hơn, theo chúng tôi là những soi chiếu hay ánh phản vào trong mình nó của thực tại và tâm thế của những thời đại đã bao chứa và chỉnh sửa nó. Sự tiếp nhận và chỉnh sửa của hiện tại, tức thời đại chúng ta đang sống, có thể tìm thấy mầm mống ngay trong, hay chịu sự chi phối một cách mặc định của, dòng lưu chuyển vốn không ngừng nghỉ đó của truyền thuyết. Truyền thuyết, với tính cách là một yếu tố văn hóa, theo cách tiếp cận nhân loại học lịch sử của chúng tôi[32], không phải là nội dung của nó, dù là nội dung tĩnh trên những lát cắt thời gian hay nội dung tổng hợp siêu thời gian, mà chính là ở sự chuyển động trong mối tương quan với thực tại và tâm thế xã hội của nội dung ấy qua các thời đại.

Quan điểm từ sử học về “thần tích” (qua trường hợp cụ thể là Phù Đổng thiên vương) của Tạ Chí Đại Trường trước đây (giữa thập niên 1980), và quan điểm về “truyền thuyết” của chúng tôi (qua trường hợp cụ thể là TVTN) ở đây đã có một điểm gặp gỡ quan trọng. Đồng thời, cũng có sự khác nhau trong hướng đích của tân sử học (new history hay non-offcial history[33]) và nhân loại học lịch sử (historical anthropology, theo quan điểm của chúng tôi). Tạ Chí Đại Trường đã viết: “Thần tích xuất hiện qua những giai đoạn khác nhau, phản ánh tâm tư của con người thời đạ, níu kéo trên bước chân của mình những sự kiện xảy ra trong thời gian đó, hay nói cách khác, một chuỗi thần tích nối tiếp nhau về một nhân vật nếu được đặt kề nhau sẽ làm nổi lên dấu vết lịch sử cấu thành nhân vật đó. Ở đây chúng ta không tìm một khuôn mặt nhạt nhòa qua thời gian mà đi tìm một khuôn mặt hình thành qua thời gian, và lẽ tất nhiên sẽ thấy được khuôn mặt lúc khởi đầu” [Tạ Chí Đại Trường 2009 : 79]. Rõ ràng, cái gọi là “sự chuyển động trong mối tương quan với thực tại và tâm thế xã hội của nội dung qua các thời đại”, với cái gọi là “khuôn mặt hình thành qua thời gian” là một sự gặp gỡ. Nhưng sau khi gặp nhau, đích hướng của hai bên lại chĩa về hai ngả không giống nhau, một bên là tiếp tục truy cứu ngược dòng lịch sử để hầu thấy được “khuôn mặt lúc khởi đầu”, một bên thì sẽ quay về với thực tại đương đại (ở bài này, chưa thực hiện được)./.

Hà Nội, tháng 9 năm 2009 – tháng 2 năm 2010

"

Chú thích:

[32] Xin xem: Chu Xuân Giao 2005, 2006a, 2006b; Chu Xuân Giao, Phan Lan Hương 2008.


Chu Xuân Giao, 2005, “Nhân loại học Lịch sử – một nhu cầu về phương pháp từ thực tế điền dã tại Nhật Bản, dòng chảy và động thái hiện tại của cách tiếp cận này”, Tạp chí Văn hóa dân gian số 6 (102)

Chu Xuân Giao, 2006 a, “Nhân loại học Lịch sử – một nhu cầu về phương pháp từ thực tế điền dã tại Nhật Bản, dòng chảy và động thái hiện tại của cách tiếp cận này” (tiếp theo và hết), Tạp chí Văn hóa dân gian số 1 (103)

Chu Xuân Giao, 2006 b, “Historical Anthropology and the Field of Japan” [Nhân loại học lịch sử và thực tiễn Nhật Bản], Proceedings of the SOAS/TUFS Post-Graduate Symposium: London, 20-21 February 2006 (Edited by Justin Watkins and Masami Arai) http://www.soas.ac.uk/cseasfiles/tufsabstracts/CHUXuanGiao.pdf


Chu Xuân Giao, Phan Lan Hương, 2008,”Truy tìm những khoảnh chân thực riêng lẻ: về thời điểm xuất hiện của Phủ Tây Hồ từ góc nhìn nhân loại học lịch sử”, Tạp chí Văn hóa dân gian số 3 (117) năm 2008



[33] Chúng tôi tạm gọi sử học của Tạ Chí Đại Trường là tân sử học/new history theo định vị vào thập niên 1990 của Peter Burke dành cho học phái Annales khởi xướng từ Pháp; còn bản thân ông có lẽ tự gọi sử học của mình là dã sử/non-offcial history.

Thứ Ba, 22 tháng 3, 2016

Về dân tộc học và nhân học (những bài của Nguyễn Văn Chính)

Khoảng 10 năm trước, bài dài đã xuất hiện trên tạp chí chuyên ngành.

Tình hình đã có thay đổi trong khoảng 10 năm đó.

Nhưng nội dung của bài thì vẫn nguyên như trước.


Trên tờ Tia Sáng, nên lấy về nguyên xi sang đây.

---

08:10-07/03/2016 

Dân tộc học hay nhân học ?

Nguyễn Văn Chính*
Múa Tứ linh tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
Từ những chuyển động đầu tiên đầy khó khăn ở Khoa Lịch sử, trường Đại học Quốc gia Hà Nội, giữa những năm 1990, một thập kỷ sau người ta đã thấy cả hệ thống nghiên cứu và đào tạo dân tộc học Việt Nam đang chuyển hướng sang tiếp cận nhân loại học không phải là một ngoại lệ mà nó nằm trong xu thế phổ biến ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa, trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa khoa học.

Dân tộc học hay nhân học văn hóa đã trải qua nhiều thăng trầm với những giai đoạn phát triển khác nhau. Thậm chí, nhiều người vẫn xem sự ra đời và phát triển của dân tộc học gắn liền với quá trình bành trướng của chủ nghĩa thực dân châu Âu. Nói chung, dưới thời thực dân, các nhà nghiên cứu thường bị định kiến bởi quan điểm tiến hóa xã hội (social evolution), nhìn các nền văn hoá ngoài châu Âu bằng con mắt xa lạ, ít biến đổi và thấp kém. Mô tả các nền văn hoá ngoài châu Âu đã là hoạt động chủ đạo của nền dân tộc học thời thực dân. Tuy nhiên, kỷ nguyên thực dân chấm dứt cũng đồng thời kết liễu sứ mạng của nền dân tộc học thực dân. Một mặt, các nước sau độc lập không còn nhu cầu để cho người nước ngoài đến “khám phá” văn hoá bản xứ làm cơ sở cho “sứ mạng khai sáng thực dân” như cũ. Thay vào đó, các nước này đã tự đào tạo các nhà khoa học để nghiên cứu văn hóa của chính mình. Trong hoàn cảnh ấy, các nhà dân tộc học thực dân đã “quay về” ngôi nhà của mình, và họ bắt đầu khám phá ra rằng có một thế giới khác cần nghiên cứu thay vì đi đến các nền văn hoá xa lạ ngoài châu Âu. Có thể nói nửa sau thế kỷ 20 đã chứng kiến một trào lưu nghiên cứu mới trong dân tộc học – nhân học, trong đó các nghiên cứu tập trung vào việc khám phá các xã hội nông dân và đô thị. Văn hóa nông dân, văn hoá thị dân, các trào lưu di dân và đô thị hoá, thế giới đời sống của các nhóm dân cư và giai tầng khác nhau trong xã hội đô thị và công nghiệp, v.v. đã thổi bùng lên niềm đam mê mới. Trong khi khám phá ra cả một chân trời mới để nghiên cứu, các nhà dân tộc học vẫn sử dụng một phương pháp đã trở thành kinh điển của họ là điền dã dân tộc. Họ vẫn bắt đầu công việc của mình bằng cách đi vào các cộng đồng được nghiên cứu (bất kể là nông thôn hay đô thị), ở lại đó trong một khoảng thời gian đủ lâu để hiểu được văn hoá, ngôn ngữ và các kỹ thuật địa phương, quan sát và phân tích chúng. Một mặt, để quên đi cái nhãn hiệu gắn liền với chủ nghĩa thực dân, và mặt khác, để mở rộng hơn nữa các quan tâm khoa học của mình, tên gọi “nhân loại học” giờ đây xem ra có vẻ nhân bản và dễ được chấp nhận hơn. Mặc dù nhiều lĩnh vực nghiên cứu mới được mở ra, và thậm chí là tên gọi mới được ưa thích hơn thì cái cốt lõi của nhân học văn hoá – xã hội hiện đại vẫn là phương pháp nghiên cứu dựa vào điền dã, mô tả và phân tích dân tộc học (fieldwork, ethnography và ethnology) và quan sát tham gia vẫn được sử dụng như một phương pháp điển hình của khoa học này mặc dù ngày nay, những kỹ năng và kỹ thuật thu thập thông tin mới cho các phân tích nhân học đang ngày càng được bổ xung và hoàn thiện hơn1.

Cũng giống như ở Trung Quốc, Liên Xô và các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa trước đây, ở Việt Nam không có ngành khoa học có tên gọi nhân loại học (anthropology) chung2. Thay vào đó, ở Việt Nam cũng có xu hướng phát triển “các khoa học nhân loại học” (anthropological sciences) một cách riêng rẽ. Ngoài những phân ngành như ngôn ngữ học, khảo cổ học, nhân học hình thái người, cổ nhân loại học, nhân học văn hoá – xã hội thì các môn văn hoá học, văn hoá dân gian và tôn giáo học cũng có thể xếp vào ‘các khoa học nhân loại học’. Dân tộc học ở Việt Nam được xem là tương ứng với lĩnh vực nhân loại học văn hoá – xã hội, mặc dù có ý kiến cho rằng dân tộc học chỉ nhằm vào việc mô tả văn hoá các tộc người và do đó, có thể được xem là một giai đoạn thấp của nhân loại học.

Khoảng từ giữa những năm 1990, Bộ môn Dân tộc học (Khoa Lịch sử, ĐHQG Hà Nội) đã đề xuất một kế hoạch đổi mới nghiên cứu và giảng dạy dân tộc học, trong đó nhấn mạnh yêu cầu cần thiết phải tách dân tộc học ra khỏi sử học thành một bộ môn khoa học độc lập, đồng thời đổi mới hướng tiếp cận bị giới hạn trong khuôn khổ của văn hoá tộc người sang một tầm nhìn rộng hơn của nhân học văn hoá trong đó nhấn mạnh các quan tâm khoa học vào các cộng đồng nông dân, nông thôn, và đô thị cũng như ứng dụng các kiến thức nhân học vào quá trình phát triển cộng đồng. Đề xuất này đã không được Hội đồng khoa học Khoa Lịch sử chấp nhận do khái niệm nhân học còn quá mới mẻ và lúc ấy nhiều người còn chưa hiểu rõ đối tượng nghiên cứu của khoa nhân học cụ thể là gì. Năm 2000, Quỹ Ford tại Hà Nội bắt đầu tài trợ một loạt dự án với kinh phí lên tới hàng tỷ đồng nhằm trợ giúp Việt Nam đổi mới và nâng cao năng lực nghiên cứu và giảng dạy dân tộc học ở Viện Dân tộc học, ở các bộ môn dân tộc học thuộc ĐHQG Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, và Hội Dân tộc học. Cũng trong năm 2000, Bộ Giáo dục chính thức cung cấp mã ngành cho Nhân học với mã số 523146. Năm 2003, ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh chính thức thành lập Khoa Nhân học và năm 2004, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đổi tên Bộ môn Dân tộc học thành Bộ môn Dân tộc học và Nhân học, và năm 2015 cho ra mắt Khoa Nhân học. Mặc dù chưa chính thức được chấp thuận nhưng trong các giao dịch quốc tế, Viện Dân tộc đã dùng tên gọi mới Institute of Anthropology thay vì Ethnology như trước đây.

Như vậy là từ những chuyển động đầu tiên đầy khó khăn ở Khoa Sử Đại học Quốc gia Hà Nội, một thập kỷ sau người ta đã thấy cả hệ thống nghiên cứu và đào tạo dân tộc học Việt Nam đang chuyển nhanh hơn về hướng nhân học văn hoá – xã hội, mặc dù chưa thấy có những thảo luận công khai và rộng rãi nhằm thay đổi hay bảo lưu quan niệm, nội dung nghiên cứu và lý luận khoa học. Phản ứng của các nhà nghiên cứu và quản lý khoa học trong nước về những đổi thay này rất khác nhau. Có những ý kiến hoan nghênh việc tách dân tộc học ra khỏi cơ cấu của khoa học lịch sử để tạo điều kiện cho dân tộc học phát triển thành một ngành riêng. Cũng có ý kiến dứt khoát không muốn đổi dân tộc học thành nhân học vì cho rằng đây là hai khoa học khác nhau trong khi có ý kiến lại cho rằng không nên thay đổi ngành học khi mà chưa hiểu kỹ nó là cái gì, nhất là khi sự thay đổi ấy lại nhận được viện trợ của nước ngoài.
Cho đến nay, sau khi nhân học được nhà nước công nhận và đưa vào chương trình đào tạo và nghiên cứu, một số nhà dân tộc học vẫn đang còn băn khoăn về mối quan hệ giữa dân tộc học và nhân học, và chưa thực sự hiểu khái niệm nhân học với tư cách là một khoa học. Điều đáng ngạc nhiên là, ngoài nỗ lực của các cơ sở đào tạo và nghiên cứu riêng lẻ hoặc quan tâm của cá nhân các nhà khoa học ra, không thấy có sự tham gia của các cơ quan quản lý khoa học tầm quốc gia cũng như các bộ, ngành liên quan. Dường như các cơ quan có trách nhiệm vẫn đang đứng ngoài cuộc, không thấy họ có ý kiến, cũng không đứng ra tổ chức các cuộc hội thảo thực sự khoa học và dân chủ để tìm hiểu xem thực chất của xu hướng đổi mới này là gì, tại sao phải thay đổi và có cần sự hỗ trợ từ nhà nước hay không. Tác động của những đề xuất thay đổi như vậy rõ ràng chỉ có tính chất cục bộ, cầm chừng, không triệt để và còn đầy e ngại.

Thực ra, xu thế và yêu cầu đổi mới trong nghiên cứu và đào tạo dân tộc học ở Việt Nam những năm qua sang hướng tiếp cận nhân loại học không phải là một ngoại lệ mà nó nằm trong một xu thế phổ biến ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa cũ bao gồm Nga và các nước Đông Âu. Đặc biệt, từ khi Trung Quốc bước vào thời kỳ cải cách xã hội cuối những năm 1970, người ta thấy nhiều trường đại học ở Nam Trung Quốc đã đi tiên phong trong việc đổi mới dân tộc học sang hướng tiếp cận nhân loại học.3

Cũng giống như Việt Nam, trước khi giành được độc lập dân tộc, nhiều trường đại học ở Trung Quốc như Nakai University of Tianjin hay Academia Sinica Bắc Kinh đã có bộ môn nhân học theo mô hình phương Tây. Khi Trung Quốc bắt đầu đổi mới nền kinh tế 1978, người ta thấy các bộ môn nhân loại học (releixue) lần lượt ra đời ở các trường đại học lớn như Trung Sơn (Zhongshan) ở Quảng Châu năm 1980, Đại học Hạ Môn (Xiamen) ở Phúc Kiến năm 1984, và Đại học Vân Nam (Yunnan) năm 1994. Đáng lưu ý là những trường đại học đi tiên phong trong việc xây dựng ngành nhân loại học theo mô hình Âu - Mỹ chủ yếu bắt đầu từ miền Nam Trung Quốc, nơi những năng động kinh tế - xã hội đang thổi bùng lên ngọn lửa cải cách kinh tế và xã hội ở Trung Quốc đại lục. Tại các trường đại học trên, chương trình giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành nhân loại học hoàn toàn tương đương như ở các bộ môn nhân loại học Mỹ và phương Tây với bốn lĩnh vực là nhân học ngôn ngữ, nhân học văn hoá, nhân học hình thái người và khảo cổ học. Gần đây, bộ môn nhân học ứng dụng bắt đầu được giảng dạy trong đó tập trung vào tình trạng đói nghèo ở khu vực nông thôn và thành thị. Năm 1986, Đại học Trung Sơn đã lần đầu tiên cấp bằng tiến sỹ nhân học theo mô hình đào tạo mới. Cho đến nay, ngoài các trường đại học nói trên, các viện nghiên cứu ở Trung Quốc cũng có xu hướng đổi sang nhân học văn hoá như Viện Xã hội học và Nhân học (Institute of Sociology & Anthropology (2000) ở Đại học Bắc Kinh; Viện Dân tộc học và Nhân học (Institute of Ethnology & Anthropology (2002) thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc (CASS), Bắc Kinh; Trung tâm Nghiên cứu Nhân học Văn hoá – Xã hội (Research Centre for Socio-Cultural Anthropology (1994) thuộc Học viện Dân tộc Trung ương Bắc Kinh; Viện Nhân học Văn hoá (Institute of Cultural Anthropology (1999) thuộc Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh, v.v.

Lý giải nguyên nhân về sự cần thiết phải đổi mới nghiên cứu dân tộc học và xác lập tiếp cận nhân học ở Trung Quốc, GS Liang Zhaotao ở ĐH Trung Sơn, Quảng Châu, người đã phát động cuộc đấu tranh để xác lập ngành nhân học ở Trung Quốc từ năm 1978 đến nay đã chỉ rõ: “Tất cả các nước trên thế giới đều có môn khoa học này (releixue), tại sao chúng ta lại không có? Chúng ta có một nền văn hoá sáng lạn, và một dân số lớn. Hãy để cho khoa nhân loại học đóng góp vào công cuộc bốn hiện đại hoá của chúng ta” (Guldin 1994:12).

Do nhận thức được tầm quan trọng và vai trò to lớn của nhân học văn hoá xã hội, Chính phủ Trung Quốc đã chính thức hậu thuẫn sự khôi phục và phát triển của ngành học này bằng cách cho dịch, xuất bản và lưu hành các tài liệu nhân học văn hoá xã hội kinh điển của phương Tây làm tài liệu tham khảo. Chính phủ Trung Quốc cũng thành lập Uỷ ban Quốc gia để xin chính thức đăng cai Đại hội Quốc tế lần thứ 16 của Liên hiệp hội các Khoa học Dân tộc học và Nhân học quốc tế tại Vân Nam vào năm 2009. Đại hội này đã đánh dấu một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hội nhập khoa học của nhân học văn hoá – xã hội Trung Quốc vào dòng chảy chung của các khoa học nhân học thế giới.

Khảo sát các bộ môn nhân học văn hoá và xã hội ở các trường đại học tại các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ, chúng ta cũng thấy rằng hầu hết các bộ môn hay viện nghiên cứu có tên gọi “cultural/social anthropology” đều mới được lập ra sau năm 1990. Thực ra, thuật ngữ social and cultural anthropology đã được sử dụng rộng rãi ở các nước Trung và Đông Âu từ trước 1990. Tuy nhiên, nhân học văn hoá xã hội cho đến những năm 1990 chỉ được xem là các bài giảng ngoại khoá trong bộ môn dân tộc học mà thôi. Từ sau năm 1990, các nhà dân tộc học đã tự xem mình là các nhà nhân học văn hoá xã hội, trong khi các bộ môn dân tộc học hoặc giải thể để lập ra các bộ môn nhân học văn hoá xã hội hoặc thêm vào tên gọi dân tộc học một thuật ngữ đi kèm là nhân học. Vesna Godina ở trường Đại học Ljublian (Slovenia) đã khảo sát quá trình thể chế hoá các cơ quan nghiên cứu và đào tạo nhân học văn hoá – xã hội ở các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa cũ và cho rằng quá trình xuất hiện của ngành nhân học văn hoá – xã hội ở các nước Liên Xô cũ và Đông Âu chỉ rộ lên từ sau 1990, và theo ba phương thức chủ yếu như sau: 1) Thành lập mới các bộ môn hay viện nghiên cứu về nhân học văn hoá – xã hội; 2) Chuyển hoá các bộ môn hoặc viện dân tộc học thành bộ môn nhân loại học văn hoá xã hội; 3) Vẫn duy trì tên gọi dân tộc học (ethnology) nhưng thêm vào sau đó thuật ngữ nhân học (anthropology).

Vấn đề được đặt ra là tại sao ở các nước nói trên lại hình thành một trào lưu đổi mới dân tộc học hoặc chuyển đổi từ dân tộc học sang nhân học? Rõ ràng những thay đổi về thể chế và những cải cách kinh tế - xã hội ở các nước này thời kỳ hậu chủ nghĩa xã hội đã đặt các khoa học xã hội và nhân văn trước sự lựa chọn sống còn: Đổi mới để phát triển hay duy trì như cũ và mai một. Quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hoá khoa học cũng trở thành một yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, ngoài các lý do đó ra, cũng có khuynh hướng cho rằng thuật ngữ ethnography, về cơ bản vẫn chỉ có ý nghĩa là một khoa học mô tả văn hoá tộc người mà thôi, tức là ở giai đoạn thấp hơn của nghiên cứu nhân học. Mặt khác, tên gọi dân tộc học thường gợi lại không chỉ mối liên hệ của nó với chủ nghĩa thực dân mà còn với cả truyền thống xã hội chủ nghĩa cũ. Thay đổi khái niệm dân tộc học sang nhân học văn hoá-xã hội cũng có ngụ ý bày tỏ mong muốn đoạn tuyệt với các truyền thống cũ. Thay đổi từ dân tộc học sang nhân học do đó được xem là một giải pháp khả dĩ đáp ứng cả yêu cầu đổi mới khoa học, hội nhập quốc tế, và những thay đổi chính trị trong khoa học.
-------
*PGS. TS, Chủ nhiệm Bộ môn Nhân học phát triển, Khoa Nhân học, trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia HN.
1 Đây là cơ sở để Từ điển về các khoa học nhân văn định nghĩa rằng “nhân loại học là môn học sử dụng tư liệu dân tộc học để khám phá các nguyên tắc của tổ chức xã hội, của chính chúng ta, cũng như của các xã hội truyền thống và cổ xưa” (Sylvie Mesure & Patrick Savidan, 2006) .   
2 Quan niệm phổ biến hiện nay cho rằng nhân loại học là một khoa học rất rộng, bao gồm nhiều phân ngành nghiên cứu về con người và văn hoá nói chung, trong đó có các lĩnh vực ngôn ngữ học, khảo cổ học, nhân loại học hình thể người, nhân loại học văn hoá-xã hội và nhân loại học ứng dụng.
3 Thông tin về tình hình dân tộc học - nhân học ở Trung Quốc được trình bày chi tiết trong các nghiên cứu của  G.E. Guldin (ed.), Anthropology in China. Armond: M.E Sharpe, Inc., 1992; và The Saga of Anthropology in China. From Malinowski to Moscow to Mao.  Armond: M.E. Sharpe, Inc., 1994); J. Smart (2005). Insearch of Anthropology in China: A Discpline Caught in the web of Nation Building Agenda, Socialist Capitalism, and Globalisation. From: Wane – Journal news; http://www.ram-wan.org/html/documents.htm 





08:09-08/03/2016 

Nguyễn Văn Chính
Thiếu nữ dân tộc H’Mông Bắc Hà thu hái
mận tam hoa
Một số nhà nghiên cứu đã đưa ra nhận xét cho rằng các công trình nghiên cứu dân tộc học của ta có đặc điểm nổi bật là hướng vào việc mô tả các khía cạnh và hiện tượng văn hoá của tộc người, cố gắng đi tìm những nét văn hoá “truyền thống” và ít biến đổi.
Thêm nữa, những miêu thuật dân tộc học như vậy bao giờ cũng cố gắng bao quát tất cả các mặt của đời sống tộc người, từ văn hoá vật chất đến quan hệ gia đình và xã hội, rồi những sinh hoạt của đời sống tinh thần. Sau đó, các tư liệu này thường được nhập vào một khuôn mẫu giải thích có sẵn, chẳng hạn tìm mối liên hệ của chúng trong lịch sử, phần lớn là ngược về thời Đông Sơn, rồi đưa ra những nhận xét về cội nguồn lịch sử chung nào đó giữa nền văn hoá Đông Sơn với lịch sử và văn hoá của tộc người được nghiên cứu. Trong khi đó, các quan hệ tộc người hiện tại lại thường được xem xét trên cơ sở của một khuôn mẫu khác, được trình bày giống như là hệ quả của tinh thần đoàn kết chống ngoại xâm, chung lưng đấu cật xây dựng quốc gia-dân tộc, v.v. Dựa trên phân tích nội dung một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam, D. Marr, một nhà Việt Nam học nổi tiếng, đã nhận xét rằng hầu hết các mô tả dân tộc học ở Việt Nam đều có đặc điểm chung là “giống như những hiện vật bảo tàng, không có thời gian, cứ như thể tất cả các tộc người này chưa từng trải qua những thử thách và biến đổi đáng kể nào trong suốt nửa thế kỷ qua” (Marr, 1992:169).

D. Marr, một nhà Việt Nam học nổi tiếng, đã nhận xét rằng hầu hết các mô tả dân tộc học ở Việt Nam đều có đặc điểm chung là “giống như những hiện vật bảo tàng, không có thời gian, cứ như thể tất cả các tộc người này chưa từng trải qua những thử thách và biến đổi đáng kể nào trong suốt nửa thế kỷ qua”.

Trong một lần may mắn được trò chuyện với một vị giáo sư hàng đầu về dân tộc học Tây Nguyên, tôi được nghe ông thổ lộ rằng khi ông vào nghiên cứu về Tây Nguyên thì văn hoá (cổ truyền) của các tộc người ở đây đã biến đổi nhiều rồi. Những yếu tố cổ xưa đã mai một đến mức khó nhận ra. Vì thế ông đã phải cố gắng chắp nối các yếu tố truyền thống trong văn hoá của họ dựa vào tư liệu thu thập được ở từng địa phương khác nhau, cuối cùng ráp nối lại, và hình dung ra đặc điểm chung của nền văn hoá tộc người mà ông đang nghiên cứu và mô tả. Có vẻ như đây là một cách làm phổ biến trong dân tộc học ở ta, giống như một khuôn mẫu chung trong thực hành nghiên cứu dân tộc học vậy. Vấn đề đặt ra là tại sao dân tộc học ở ta lại có khuynh hướng đi tìm những đặc trưng văn hoá “điển hình”, cổ xưa và ít biến đổi của tộc người trong khi ít xem xét những biến đổi và tính đa dạng của chúng theo thời gian và trong không gian? Tại sao các nghiên cứu dân tộc học của ta lại ít quan tâm đến các vấn đề của xã hội hiện đại, những năng động kinh tế- xã hội và dân số ở khu vực đô thị và công nghiệp mà có khuynh hướng tập trung vào các tộc người thiểu số ở xa các trung tâm đô thị? Có lẽ các nhà nghiên cứu của chúng ta ít khi mổ xẻ vấn đề này, rằng tại sao chúng ta lại làm như vậy, và thực ra chúng ta có chịu ảnh hưởng hay bị dẫn dắt bởi một thứ lý luận khoa học nào đó không? Cho đến nay, chúng ta ít thấy các thảo luận có tính lý luận như vậy trên tạp chí chuyên ngành hay trong các công trình nghiên cứu lý luận về dân tộc học.

Một trong những hậu quả của tiếp cận tầng “văn hoá tĩnh” của tộc người là chúng ta không đánh giá đúng mức những vấn đề của xã hội hiện đại đang diễn ra và thay đổi nhanh, ngoài việc tiếp tục nghiên cứu về làng xã, một truyền thống của dân tộc học thực dân cho đến nay. Do vậy, chúng ta hầu như vẫn chưa quan tâm đến các vấn đề của dân tộc học đô thị, đến lối sống của các cộng đồng xã hội hiện đại như công nhân công nghiệp và nông lâm trường. Dường như chúng ta ngấm ngầm công nhận rằng sân chơi của dân tộc học là các xã hội truyền thống, trong khi các xã hội hiện đại là lĩnh vực của xã hội học? Dù sao thì đây cũng là một đặc điểm khác biệt đáng kể của dân tộc học Việt Nam so với xu hướng của dân tộc học – nhân học thế giới sau kỷ nguyên thực dân, trong đó, các nghiên cứu đã được tập trung vào đời sống, và các cộng đồng xã hội khác nhau trong lòng các xã hội công nghiệp phát triển, thì chúng ta vẫn còn đang mơ màng với truyền thống của dân tộc học thời thực dân quan tâm chủ yếu đến các tộc người thiểu số, tìm kiếm những đặc điểm văn hoá của một thời quá vãng mà ít xem xét chúng trong mối liên hệ đến sự biến đổi và phát triển của đời sống hiện tại.     

Những kêu gọi đổi mới dân tộc học Việt Nam gần đây có khuynh hướng nhấn mạnh vào khả năng ứng dụng của nó. Trên cơ sở quan niệm rằng bản chất của dân tộc học là “một khoa học ứng dụng” (Hoàng Lương, 2000:7), các nhà nghiên cứu đòi hỏi nghiên cứu dân tộc học phải phục vụ thực tiễn cuộc sống và chính sách phát triển. Sở dĩ vấn đề này được nhấn mạnh gần đây là vì vẫn tồn tại một cách nghĩ phổ biến cho rằng dân tộc học của ta nặng về miêu tả và nhẹ phân tích, xa rời hiện thực cuộc sống. Nhưng trên thực tế, trong các quyết sách của nhà nước với các khu tự trị dân tộc, với đường lối phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên và đặc biệt là những thay đổi trong chính sách tôn giáo của Đảng những năm gần đây cho thấy dân tộc học thực sự đã góp phần thiết thực vào những chương trình nghị sự của đất nước. Tuy nhiên, trong khi kêu gọi phải tăng cường ứng dụng phục vụ chính sách phát triển, các trường đại học và các viện nghiên cứu liên quan lại chưa sẵn sàng trang bị cho các nhà nghiên cứu những kiến thức cần thiết về dân tộc học ứng dụng. Nếu chỉ bằng những nhiệt tình chính trị đơn thuần, cái giá phải trả cho những đề xuất chính sách thiếu cơ sở khoa học có thể đẩy các nhóm tộc người hoặc các vùng miền văn hoá vào những tình thế không thể sửa chữa.

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2016

Cần một dự án dịch thuật cấp quốc gia về nhân học (bài Nguyễn Thị Hiền)

Bài mới lên trên Tia Sáng.



---



08:12-10/03/2016 




Nguyễn Thị Hiền *

Lễ hội truyền thống làng Dâu, xã An Mỹ,
huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

Cần triển khai hiệu quả một dự án dịch thuật ở quy mô quốc gia, trong đó quy tụ những chuyên gia dịch thuật, nhà nghiên cứu, những người thành thạo ngoại ngữ chuyên ngành có tâm huyết tham gia để góp phần đưa nhân học Việt Nam phát triển đúng hướng và từng bước hội nhập với thế giới.


Bắt rễ từ những nghiên cứu dân tộc học thời kỳ thực dân và trải qua thời kỳ ảnh hưởng của nền học thuật Xô-viết, nhân học Việt Nam mới hình thành chừng 10 năm trở lại đây với một đội ngũ các nhà nghiên cứu, phần lớn chuyển từ dân tộc học, văn hóa dân gian, văn hóa học, sử học… sang hoặc các chuyên ngành khác có liên quan ở nước ngoài về. Các công trình nghiên cứu về nhân học của họ cũng mới bắt đầu được xuất bản trên tạp chí hoặc in sách chuyên khảo trong nước và quốc tế, số lượng chưa nhiều và chất lượng không đồng đều.

Vì vậy, dù ghi nhận những kết quả bước đầu nhưng ở góc độ một nhà nghiên cứu, phải thẳng thắn thừa nhận nhiều nghiên cứu nhân học của Việt Nam vẫn còn chưa “tới”, chưa cập nhật và chưa thực sự hội nhập với nền học thuật quốc tế. Có nhà nghiên cứu nhân học Mỹ sau khi đọc một số các bài viết, hay thậm chí những chú thích của hiện vật trong bảo tàng ở Việt Nam có trao đổi với tôi rằng, có lẽ nhiều người trong số họ chỉ “ngồi trong phòng làm việc tại Hà Nội” để tưởng tượng, mô phỏng lại các sinh hoạt, văn hóa, xã hội cộng đồng và đưa ra những quan điểm mang tính áp đặt, những lời nói của người ngoài cuộc. Nói như vậy cũng có phần oan uổng cho các nhà nghiên cứu Việt Nam bởi họ có đi điền dã, lặn lội ở địa bàn nghiên cứu, nhưng sự thực là điền dã chưa đủ, chưa kể còn thiếu những phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận, hệ thống lý thuyết cập nhật. Vì vậy, dù cũng thực hiện phỏng vấn, quan sát tham dự, kết hợp lý giải, phân tích nội dung nghiên cứu nhưng các công trình của họ vẫn chưa có độ sâu, chưa làm nổi bật những vấn đề của cuộc sống văn hóa, xã hội.. của cộng đồng cũng như tâm thức của người thực hành, người trong cuộc. 



Tôi biết hai khoa Nhân học trường Đại học KHXH&NV thuộc Đại học Quốc gia HN, TPHCM và ở các Viện nghiên cứu cũng ở tình trạng thiếu sách đến mức các giảng viên chủ yếu vẫn phải “giảng chay”, còn sinh viên và nghiên cứu sinh thì rất thiếu một hệ thống tài liệu tham khảo để mở rộng kiến thức.

Trong khi đó, các công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài thường mô tả sâu và đề cập kỹ lưỡng đến con người chủ thể - con người hành động, tâm tư của họ, lý giải rất rõ nguồn gốc từng hành động, ý nghĩa từng nghi lễ, … dựa trên các phương pháp tiếp cận hiện đại. Clifford Geertz, nhà nhân học Mỹ nổi tiếng cho rằng nhân học không thể̉ là một ngành khoa học như ngành vật lý với các quy luật và sự tổng quát dựa vào các số liệu thực tế và thực nghiệ̣m. Nghiên cứu văn hóa dù phải dựa vào hiện thực cụ thể của một xã hội, nhưng phải là ý nghĩa do con người sống trong xã hội đó hiể̉u, chứ không phải là những phán đoán chủ quan của nhà nghiên cứu dựa vào số liệu thực tế. Các công trình nghiên cứu của Clifford Geertz luôn liên kết các quá trình tự biết, tự nhận thức, tự hiểu của người bản địa với sự hiểu biết của nhà nghiên cứu về văn hoá của họ. Trong cách tiếp cận này, mỗi vấn đề được phân tích, lý giải bắt đầu từ một tập hợp những nhận thức của người bản địa về vấn đề đó, so sánh với những nhận thức khác của họ, tiếp đến là những nhận thức và tri thức của nhà nghiên cứu (phương pháp, nhận thức, sự hiểu biết) kết hợp với nhận thức của người bản địa về chính văn hoá của họ.

Cuộc thoát ly với những phương pháp nghiên cứu truyền thống đã lạc hậu của nhân học Việt Nam còn diễn ra một cách chậm chạp, ngập ngừng chừng nào các nhà nghiên cứu còn chưa cập nhật các kiến thức mang tính hệ thống, lý thuyết, những quan điểm học thuật quốc tế… Để thúc đẩy quá trình này, bên cạnh nỗ lực tự thân của mỗi nhà nghiên cứu nhân học, họ cần phải được trang bị những bộ sách, những bài viết công cụ mang tính nền tảng của nhân học quốc tế bên cạnh những tài liệu của trường phái Xô-viết để có một hệ thống kiến thức về ngành dân tộc học và nhân học quốc tế trong suốt chiều dài lịch sử phát triển mạnh mẽ từ nửa đầu thế kỷ XX đến nay. Khi nhân học Việt Nam cần nhiều tài liệu tham khảo mang tính học thuật và những công trình nghiên cứu của quốc tế thì những công trình dịch quá ít ỏi, chủ yếu chỉ mới có một số tuyể̉n tập nhân học cùng một số bài nghiên cứu đã được dịch và in riêng lẻ trên các tạp chí chuyên ngành. Tôi biết hai khoa Nhân học trường Đại học KHXH&NV thuộc Đại học Quốc gia HN, TPHCM và ở các viện nghiên cứu cũng ở tình trạng thiếu sách đến mức các giảng viên chủ yếu vẫn phải “giảng chay”, còn sinh viên và nghiên cứu sinh thì rất thiếu một hệ thống tài liệu tham khảo để mở rộng kiến thức.

Đây là lý do khiến một dự án dịch thuật thật sự cần thiết với ngành nhân học Việt Nam. Nhìn ra thế giới, nhiều quốc gia đã thực hiện phương án này một cách hiệu quả, đơn cử như Trung Quốc, Hàn Quốc đều tiến hành dịch và xuất bản rất nhanh các công trình nhân học mới xuất hiện trên thế giới với sự tham gia nhiệt tình của những nhà nghiên cứu. Ngoài việc bản thân muốn cập nhật tình hình học thuật thế giới, họ còn muốn có thêm tài liệu giảng dạy và phổ biến những hệ thống kiến thức mới cho sinh viên, nghiên cứu sinh trong nước. Trước khi trở về nước làm việc, TS. Laurel Kendall, Chủ nhiệm Khoa Nhân học (Department of Anthropology) Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ (AMNH), New York, đã tặng tôi mấy cuốn sách và dặn: “Hiền, em về nước cũng nên nhớ cập nhật sách mới và học hỏi kinh nghiệm của Hàn Quốc. Công trình nào mới về nhân học thế giới là họ cũng dịch luôn ra tiếng Hàn”. Sau đó, mỗi lần sang Việt Nam, món quà quý giá nhất bà thường tặng tôi là một cuốn sách mới.

Ba yếu tố đảm bảo dự án thành công

Cũng như nhiều dự án khác, một dự án dịch thuật muốn thành công cần, tối thiểu phải đảm bảo được ba yếu tố: thứ nhất là tập hợp được những nhà chuyên gia “biết người biết việc”, thứ hai là tuyển chọn được những công trình (sách, bài viết) phản ánh sự phát triển, những quan điểm học thuật trong lịch sử của ngành nghiên cứu, và thứ ba là kinh phí thực hiện.

Ở Việt Nam, với nhiều dự án, có khi người ta mời các nhà quản lý, những chuyên gia chưa thực sự đúng chuyên ngành tham gia, mang tính chất “hợp thức hóa” hơn là nghĩ đến hiệu quả thật sự và cái đích cần đạt được. Kết quả là những dự án đó hoặc được điều hành bởi những người không thạo việc hoặc trở thành nơi tập hợp của các sản phẩm ít giá trị học thuật, ứng dụng thực tế. Như vậy, không những mục đích mà dự án đề ra không thực hiện được một cách hiệu quả mà còn dẫn đến việc lãng phí kinh phí đầu tư của nhà nước.

Để dự án dịch thuật sách nhân học tránh được những tiền lệ đó, ngoài việc tập hợp những chuyên gia dịch thuật, những nhà nghiên cứu tâm huyết thành thạo ngoại ngữ chuyên ngành nhân học, cần mời thêm một số chuyên gia giỏi ở nước ngoài tham gia tư vấn, chú giải, viết lời giới thiệu các cuốn sách… Chúng ta phải nhìn rộng ra rằng, ngành nhân học thế giới bắt nguồn từ thế kỷ XVIII và đến nay, qua nhiều thời kỳ phát triển, có hàng ngàn cuốn sách, bài viết và được bổ sung không ngừng hằng năm. Giữa hàng vạn công trình như vậy thì chỉ có những nhà nghiên cứu am hiểu hệ thống quan điểm học thuật mới đủ khả năng lựa chọn, tìm ra được những cuốn sách, công trình nào đáng dịch. Việc mời các chuyên gia quốc tế, những giáo sư đầu ngành nhân học tham gia tư vấn cho dự án gần như không mất quá nhiều công sức và tiền bạc, ngoài việc gửi e-mail trao đổi thông tin và nếu có tổ chức thảo luận thì mất tiền vé mời họ tới Việt Nam.

Về bản quyền các cuốn sách được dịch, với một dự án phi lợi nhuận, hoàn toàn mang tính phổ biến kiến thức học thuật và nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu như vậy thì đây không phải là vấn đề đáng lo. Hầu hết các nhà xuất bản quốc tế đều rất sẵn sàng không yêu cầu phí bản quyền trước những dự án như thế này, chỉ cần chúng ta nêu rõ mục tiêu phi lợi nhuận của dự án với họ.  



Ở Việt Nam, với nhiều dự án, có khi người ta mời các nhà quản lý, những chuyên gia chưa thực sự đúng chuyên ngành tham gia, mang tính chất “hợp thức hóa” hơn là nghĩ đến hiệu quả thật sự và cái đích cần đạt được. Kết quả là những dự án đó hoặc được điều hành bởi những người không thạo việc hoặc trở thành nơi tập hợp của các sản phẩm ít giá trị học thuật, ứng dụng thực tế.

Khi mọi vấn đề về học thuật và bản quyền đã được giải quyết, vấn đề còn lại đối với dự án dịch thuật lại là kinh phí thực hiện, vốn được coi là khó hơn cả việc chọn lọc danh sách những công trình cần dịch. Cách đây vài năm, chúng tôi đã đề xuất một dự án dịch tài liệu về nhân học văn hóa, một bộ phận quan trọng của nhân học, với mục tiêu là dịch, hiệu đính, in ấn 12 tuyển tậ̣p, mỗi tuyển tập sẽ có khoảng từ 12-15 bài nghiên cứu hay các chương được chọn lọc trong một cuốn sách chuyên khảo và dày khoảng 500 trang, thời gian thực hiện trong vòng bốn năm với kinh phí khoảng 2,6 tỷ đồng. Số sách dịch sẽ được gửi cho các thư viện của các trường đạ̣i học, viện nghiên cứu Việt Nam. Tuy nhiên đến nay dự án đó vẫn bị gác lại vì không có kinh phí thực hiện.

Vì vậy từ góc độ một nhà nghiên cứu, đặt sự phát triển của ngành nhân học bên cạnh sự phát triển của KHXH&NV cũng như đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, tôi cho rằng, ngành nhân học mới hình thành ở Việt Nam sẽ dần dần hội nhập nền học thuật quốc tế nếu có được một trong những yếu tố mang tính nền tảng – những bộ tuyển tập các công trình chuyên ngành thông qua việc thực hiện nghiêm túc một dự án dịch thuật về nhân học ở tầm quốc gia.


------------

* PGS. TS Nguyễn Thị Hiền, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.