Hiển thị các bài đăng có nhãn sử-học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sử-học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2016

Một phát hiện nhỏ nhưng quan trọng của Tạ Chí Đại Trường

Bài của Trần Huy Bích.


Dưới là toàn văn.

---

Trần Huy Bích 



Thứ Bảy, ngày 09 tháng 4 năm 2016


Trong vụ "Bình Nam đồ" do nhà nghiên cứu sử học Tạ Chí Đại Trường nêu ra trong di cảo của anh, sai lầm đầu tiên đã từ một số giáo sư, học giả uy tín của miền Nam: Gs. Trương Bửu Lâm, Giám đốc Viện Khảo cổ, giáo sư Sử tại Đại học Văn khoa và Đại học Sư phạm Sàigòn, cùng một số giáo sư, học giả uy tín khác cộng tác với ông: Gs. Bửu Cầm, dạy Sử và chữ Nôm tại Đại học Văn khoa, và một số nhà cựu học tên tuổi như Đỗ Văn Anh, Tạ Quang Phát, Phạm Huy Thúy …, tất cả đều có danh vọng.
Trong phần về "Bình Nam đồ," gồm 15 tấm địa đồ được in từ trang 138 đến trang 167 của sưu tập Hồng Đức bản đồ (Tủ sách Viện Khảo cổ--Sàigòn: Bộ Quốc gia Giáo dục, 1962), có một câu về tác giả, "Đốc suất Đoan Quận công họa tiến" 督率端郡公畫進 (Đốc suất Đoan Quận công vẽ dâng lên). Trong “Lời giới thiệu,” Gs. Trương Bửu Lâm giải thích rằng, "Đoan Quận công là tước của Nguyễn Hoàng do vua Lê phong trước khi cho vào trấn đất Thuận Hóa năm 1558." Điều ấy đúng với sử sách. Trong khá nhiều năm, học giới Việt Nam và ngoại quốc cũng công nhận như thế. Nhưng nếu quả thật Nguyễn Hoàng đã cho vẽ "Bình Nam đồ" để dâng lên triều đình vua Lê như lời giới thiệu của Gs. Trương Bửu Lâm thì khi xem kỹ bộ bản đồ, ta sẽ thấy một số điều không được hợp lý.
Trước hết, tên đầy đủ của bộ bản đồ là "Giáp Ngọ niên bình Nam đồ" 甲午年平南圖 (bản đồ bình định phương Nam năm Giáp Ngọ). Chúng ta cùng biết mỗi 60 năm lại có một năm Giáp Ngọ. Vậy đây là cuộc “bình Nam” vào năm Giáp Ngọ nào? Nguyễn Hoàng sinh năm Ất Dậu 1525. Năm Giáp Ngọ 1534 ông mới lên 9. Năm Giáp Ngọ 1594 ông 69 tuổi. Ông qua đời năm 1613, không sống tới Giáp Ngọ 1654. Vậy hai chữ “Giáp Ngọ” trong danh hiệu bộ bản đồ chỉ có thể là Giáp Ngọ 1594.
Hàng chữ lớn: Giáp Ngọ niên bình Nam đồ.
Hai hàng chữ nhỏ phía dưới: Đốc suất Đoan Quận công họa tiến
Hàng chữ nhỏ bên trái: Tự Động Hải chí Cao Miên giới (Từ Đồng Hới tới biên giới Cao Miên) 
Trong bộ bản đồ này có vẽ Lũy Thầy ("Đồng Hới lũy," trang 91 của Hồng Đức bản đồ). Lũy này chưa có trong thời Nguyễn Hoàng. Phải đến năm Tân Mùi 1631, 18 năm sau khi Nguyễn Hoàng qua đời, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên mới cho đắp theo kế hoạch của Đào Duy Từ. Những địa danh như "phủ Thái Khang, phủ Diên Ninh," mãi đến đời chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (năm Quý Tỵ 1653) mới có. Gs. Trương Bửu Lâm cho rằng "Những bản đồ ấy có lẽ được thực hiện dưới thời chúa Hiền," nhưng"không hiểu vì sao mà trên trang đầu lại nói đến tước của Nguyễn Hoàng." 
Khi xem kỹ, ta sẽ thấy một số địa danh nữa cũng chưa có ở thời Nguyễn Hoàng. Ngoài ra, trong bản đồ có ghi một "Đoan công miếu" (miếu thờ Đoan Quận công, về sau là Quốc công, tước phong của Nguyễn Hoàng). Cũng có một “Thụỵ công mộ” (mộ của Thụy Quận công, tước phong của  chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, con của Nguyễn Hoàng, qua đời năm 1635). Làm sao trong bản đồ Nguyễn Hoàng vẽ để dâng lên vua Lê năm 1594 có thể ghi ngôi miếu để thờ chính ông cùng ngôi mộ của con ông, hơn 40 năm sau mới qua đời được? 
Giáp Ngọ niên bình Nam đồ
Bản đồ khu vực Quảng Bình, với “Động hải lũy” (lũy Đồng Hới) ở các ô 8D, 8E 
Một chi tiết đáng lưu ý nữa là năm Giáp Ngọ 1594 thì Nguyễn Hoàng không còn là "Đoan Quận công." Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, ông được vua Lê phong là Thái úy Đoan Quốc công từ năm trước, Quý Tỵ 1593. Quốc công cao hơn Quận công. Tại sao một Thái úy Đoan Quốc công lại xưng là "Đốc suất Đoan Quận công"? Nguyễn Hoàng chưa bao giờ có chức vụ nào mang ý nghĩa "Đốc suất." Thái úy là một chức quan rất cao thời xưa, đứng đầu hàng võ, nhiều triều đại liệt vào hàng “Tam công.” Về sau có triều đại cải danh là Đại Tư mã, cao hơn “Đốc suất” rất nhiều.
Theo Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục, tháng 5 năm Giáp Ngọ (1774), Trấn thủ Nghệ An là Đoan Quận công Bùi Thế Đạt báo về triều đình Đàng Ngoài những suy yếu đang xảy ra ở Đàng Trong (Trương Phúc Loan chuyên quyền, triều chính rối ren, nhân tâm ly tán, Tây Sơn nổi dậy ở Qui Nhơn ...) và "dâng sớ xin đi đánh." Chúa Trịnh Sâm chấp thuận, cử "Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc làm Thống suất Bình Nam Thượng tướng quân" và "Đoan Quận công Bùi Thế Đạt (đang giữ chức Trấn thủ Nghệ An) kiêm thêm chức Đốc suất Bình Nam Đại tướng quân" "đi kinh lược trước."Vậy vị "Đốc suất Đoan Quận công họa tiến" nhiều phần chính là Bùi Thế Đạt. Khi cho vẽ bộ bản đồ để chuẩn bị cho việc cất quân vào "bình Nam" năm Giáp Ngọ 1774, nhiều phần ông đã dựa theo một số bản đồ Đàng Trong vốn có từ trước, chỉ ghi thêm những chi tiết liên quan tới quân sự: các đồn lũy, số quân, chỗ đặt súng, chỗ đốt lửa báo hiệu (hỏa hiệu), chỗ neo thuyền của thủy quân ... Đó là một số chi tiết chúng ta thấy xuất hiện trong "Giáp Ngọ niên bình Nam đồ." 
Người nhận ra điều ấy từ khá sớm là Tạ Chí Đại Trường. Trong Thần, người và đất Việt (Westminster, CA : Văn Nghệ, 1989), anh nói lên lần thứ nhất chuyện không đồng ý với Gs. Trương Bửu Lâm. Trong chú thích số 10 ở trang 214 của cuốn sách, anh cho biết, "Đốc suất Đoan Quận công," người cho vẽ "Giáp Ngọ niên bình Nam đồ,” chính là Bùi Thế Đạt chứ không phải Nguyễn Hoàng. Tôi có cuốn sách của anh từ khá lâu, nhưng thú thật là đã không đọc kỹ các chú thích. Chỉ sau khi bản "di cảo" của Tạ Chí Đại Trường được phổ biến, mới xem lại và tìm thấy lời chú thích ấy.
Không thể phản bác ý kiến rất hợp lý của Tạ Chí Đại Trường, tôi thử tìm xem vì sao hai vị giáo sư uyên bác và khả kính của Đại học Văn khoa (các Gs. Trương Bửu Lâm và Bửu Cầm) cũng như nhiều học giả uy tín khác, đã lầm lẫn. 
Các giáo sư, học giả biên tập cuốn Hồng Đức bản đồ năm 1962 có lý do để không biết rằng Bùi Thế Đạt cũng có tước hiệu "Đoan Quận công." Một phần vì tước hiệu ấy đã được phong cho Nguyễn Hoàng. Phần nữa vì Đại Việt Sử Ký Toàn Thư vàCương Mục đều không chép chuyện ấy. Các bản Toàn Thư được phổ biến chỉ chép tới năm Bính Thân 1656, đời vua Lê Thần tông. Cương Mục chỉ cho biết Bùi Thế Đạt là “Trấn thủ Nghệ An” chứ không ghi tước hiệu. Phủ biên tạp lục có thể đã không được đọc kỹ vì chỉ là “tạp lục,” chưa đạt tới địa vị của "chính sử."
Việc Bùi Thế Đạt có tước hiệu "Đoan Quận công" được ghi trong Đại Việt sử ký tục biên (cũng gọi là Bản kỷ tục biên hay Lê sử bản kỷ tục biên), nhưng bộ sách ấy bị cấm lưu hành từ năm 1838, do một đạo dụ của vua Minh Mạng. Khi xây dựng quốc học cho miền Nam Việt Nam sau 1954, nhiều phần các trí thức, học giả của miền Nam chưa có đủ thời giờ nghĩ tới việc phiên dịch bộ sách ấy. Trong hoàn cảnh như thế, việc chỉ nghĩ đến Nguyễn Hoàng khi nghe nhắc tới tước hiệu "Đoan Quận công" là một thiếu sót có thể hiểu được.
Khi cho in Hồng Đức bản đồ năm 1962, Gs. Trương Bửu Lâm đã viết những lời rất khiêm tốn: "Chúng tôi đã cố gắng ... nhưng vẫn không bao giờ quên là tác phẩm còn rất nhiều khuyết điểm hay lỗi lầm," "Mong các độc giả vui lòng chỉ dẫn trong những khuyết điểm cũng như sửa chữa những lầm lỗi." Thắc mắc do giáo sư nêu ra, "Những bản đồ ấy có lẽ được thực hiện dưới thời chúa Hiền," nhưng "không hiểu vì sao mà trên trang đầu lại nói đến tước của Nguyễn Hoàng," mãi 27 năm sau (1989) mới có người lên tiếng góp ý: cựu sinh viên Đại học Văn khoa Tạ Chí Đại Trường. Anh viết trong Thần, người, và đất Việt: Những bản đồ ấy được thực hiện năm Giáp Ngọ 1774, sau khi chúa Hiền mất (1687) gần 90 năm. Vị “Đoan Quận công họa tiến” không phải là Nguyễn Hoàng (1525-1613) như vẫn được ngộ nhận mà là một người ra đời sau Nguyễn Hoàng gần 200 năm: Trấn thủ Nghệ An Bùi Thế Đạt (1704-1778). Anh nhận xét rất tinh, và đã đọc sử sách thật kỹ. 
Một số nhân vật trong học giới Tây phương như David Bulbeck và Li Tana (trong “Maps of Southern Vietnam, circa 1690, Giap Ngo nien binh Nam do,” được in trongSouthern Vietnam under the Nguyen [Singapore : Institute for Southeast Asian Studies, 1993]), hoặc Brian A. Zottoli (trong bản luận án PhD nộp cho University of Michigan năm 2011, “Reconceptualizing southern Vietnamese history from the 15th to the 18th century”) cũng bàn về “Bình Nam đồ và đưa ra nhiều suy đoán khác nhau về niên đại nhưng chưa đi tới kết luận dứt khoát. Niên đại 1690 do David Bulbeck và Li Tana đưa ra chỉ là năm Canh Ngọ chứ không phải Giáp Ngọ. Dựa theo các nhà sưu tập và chú giải Hồng Đức bản đồ năm 1962, các vị vẫn nghĩ rằng "Đoan Quận công"  là Nguyễn Hoàng chứ chưa biết tới Bùi Thế Đạt.
Trong mấy năm gần đây, học giới trong nước đã biết tới vai trò của Bùi Thế Đạt. Trong bài về "Giáp Ngọ niên bình Nam đồ" đăng trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triểnsố 109 (số 2-2014), tước hiệu "Đốc suất Đoan Quận công" đã được chú thích lại là "Bùi Thế Đạt." Số báo này phát hành sau cuốn Thần, người và đất Việt của Tạ Chí Đại Trường đúng 25 năm (2014-1989). Tạp chí điện tử  Nghiên cứu sử địa An Giangcũng đăng một bài của Trần Hoàng Vũ, được lấy từ Tạp chí văn hóa - lịch sử An Giang số 120 (tháng 3-2015) về “Giáp Ngọ niên bình Nam đồ.” Tác giả bài viết cũng ghi nhận “bộ bản đồ này là tác phẩm của Đoan Quận công Bùi Thế Đạt”:
https://sites.google.com/site/vhlsangiang/cac-bai-nghien-cuu/giapngonienbinhnamdovoilichsukhanhoangmiennam 
Bài của Huỳnh Thị Anh Vân (Tạ Chí Đại Trường nhớ sai là “Ánh Vân”), thuộc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, góp ý về bài “Giáp Ngọ niên bình Nam đồ”của David Bulbeck và Li Tana nhắc tới ở trên (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 342 [Hà Nội : Viện Sử Học, tháng 11, 2004], trang 70-76).   
Tuy trễ đã hơn 20 năm, phát hiện của Tạ Chí Đại Trường đã được trong và ngoài nước ghi nhận vì phát hiện ấy rất đáng được ghi nhận.
Trần Huy Bích
(Tháng 4-2016)

http://www.diendantheky.net/2016/04/tran-huy-bich-mot-phat-hien-nho-nhung.html

Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2016

Nhà Mạc thời kì Cao Bằng : một nghiên cứu của sinh viên với Giao Blog

Một đàn em dân Tổng Hợp Hà Nội. Đang là sinh viên năm thứ 2. Đam mê nghiên cứu đã thấy bắt đầu có trong em.

Tuy nghiên cứu này, quả đúng là ở tầm sinh viên năm thứ 2, nên chưa có bất cứ đóng góp gì, năng lực đọc cũng vẫn còn hạn chế nhiều, nhưng cũng là rất đáng khích lệ. Mong em tiếp tục đam mê, tiếp tục những tìm tòi.

Đạt thành tựu đầu tiên trong nghiên cứu, em có cảm ơn tới nhiều người, trong đó có Giao Blog.

Xem nguyên tư liệu em vừa lên Fb:





Thứ Năm, 24 tháng 3, 2016

Chung và riêng giữa Tân Sử học và Dân tộc học (tôi viết về Tạ Chí Đại Trường, năm 2010)

Bài đã viết từ lâu, khoảng 6 - 7 năm về trước. Đã in năm 2010, sau đó đăng lại trên mạng Da Màu (ở đây).

Khác với một số bản thảo liên quan đến sử học, riêng bài này, không có điều kiện trao đổi với ông Tạ. Bởi lúc đó, ông Tạ báo là sức khỏe không tốt (một bài khác về cùng chủ đề Tứ Vị Thánh Nương ở Nghệ An công bố trước bài này, thì trao đi đổi lại nhiều lần).

Về bản toàn văn, nếu trên mạng thì đọc ở Da Màu. Dưới là đoạn viết về cách tiếp cận Sử học (Tân Sử học) của Tạ Chí Đại Trường, cũng là chỗ chung và chỗ riêng với Dân tộc học - Nhân loại học Văn hóa của tôi.


Nguyên văn:

"

Như đã trình bày ở trên, các ghi chép thực tế và có chiều sâu về Bà Chúa/ Cửa Chúa của Đắc Lộ với những niên đại biên soạn và xuất bản được xác định rõ ràng là những tư liệu vô cùng quí giá cho nghiên cứu (lịch sử, lịch sử tôn giáo). Tuy nhiên, chúng tôi không sử dụng chúng chỉ đơn thuần là tài liệu lịch sử, mà muốn khai thác những giá trị dân tộc chí ẩn chứa trong đó, tức là xem chúng như những dân tộc chí được hình thành từ những ghi chép thực địa cần mẫn và tinh tường của giáo sĩ Đắc Lộ. Về cụ thể, bằng cách đọc lại như trên trước khối tư liệu vốn không hề xa lạ với bạn đọc, nhất là với các linh mục công giáo, chúng tôi đi đến một kết luận khác với các nghiên cứu đi trước, rằng: Cửa Chúa trong ghi chép của Đắc Lộ đích thực là (và chỉ là) Cửa Cờn hay Cửa Lạch Cờn[31] (hiện ở tại xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An). Đó là một cửa bể gắn bó một cách duyên cớ với lữ trình truyền giáo của Đắc Lộ ở Đàng Ngoài hồi thế kỉ XVII.

Cuối cùng, cần thiết nói rằng, điều chúng tôi quan tâm đến lai lịch/truyền thuyết của TVTN, tức của Bà Chúa, không phải là việc truy tìm đâu là lai lịch đúng giữa các nguồn tư liệu, mà là hướng đến việc sẽ nắm bắt sự lưu chuyển của lai lịch ấy qua trục thời gian, rút cục là để có thể nhìn thực tại đương đại ở một bình diện sâu sắc hơn. Sự lưu chuyển của truyền thuyết, bản thân nó đã là lịch sử, nhưng quan trọng hơn, theo chúng tôi là những soi chiếu hay ánh phản vào trong mình nó của thực tại và tâm thế của những thời đại đã bao chứa và chỉnh sửa nó. Sự tiếp nhận và chỉnh sửa của hiện tại, tức thời đại chúng ta đang sống, có thể tìm thấy mầm mống ngay trong, hay chịu sự chi phối một cách mặc định của, dòng lưu chuyển vốn không ngừng nghỉ đó của truyền thuyết. Truyền thuyết, với tính cách là một yếu tố văn hóa, theo cách tiếp cận nhân loại học lịch sử của chúng tôi[32], không phải là nội dung của nó, dù là nội dung tĩnh trên những lát cắt thời gian hay nội dung tổng hợp siêu thời gian, mà chính là ở sự chuyển động trong mối tương quan với thực tại và tâm thế xã hội của nội dung ấy qua các thời đại.

Quan điểm từ sử học về “thần tích” (qua trường hợp cụ thể là Phù Đổng thiên vương) của Tạ Chí Đại Trường trước đây (giữa thập niên 1980), và quan điểm về “truyền thuyết” của chúng tôi (qua trường hợp cụ thể là TVTN) ở đây đã có một điểm gặp gỡ quan trọng. Đồng thời, cũng có sự khác nhau trong hướng đích của tân sử học (new history hay non-offcial history[33]) và nhân loại học lịch sử (historical anthropology, theo quan điểm của chúng tôi). Tạ Chí Đại Trường đã viết: “Thần tích xuất hiện qua những giai đoạn khác nhau, phản ánh tâm tư của con người thời đạ, níu kéo trên bước chân của mình những sự kiện xảy ra trong thời gian đó, hay nói cách khác, một chuỗi thần tích nối tiếp nhau về một nhân vật nếu được đặt kề nhau sẽ làm nổi lên dấu vết lịch sử cấu thành nhân vật đó. Ở đây chúng ta không tìm một khuôn mặt nhạt nhòa qua thời gian mà đi tìm một khuôn mặt hình thành qua thời gian, và lẽ tất nhiên sẽ thấy được khuôn mặt lúc khởi đầu” [Tạ Chí Đại Trường 2009 : 79]. Rõ ràng, cái gọi là “sự chuyển động trong mối tương quan với thực tại và tâm thế xã hội của nội dung qua các thời đại”, với cái gọi là “khuôn mặt hình thành qua thời gian” là một sự gặp gỡ. Nhưng sau khi gặp nhau, đích hướng của hai bên lại chĩa về hai ngả không giống nhau, một bên là tiếp tục truy cứu ngược dòng lịch sử để hầu thấy được “khuôn mặt lúc khởi đầu”, một bên thì sẽ quay về với thực tại đương đại (ở bài này, chưa thực hiện được)./.

Hà Nội, tháng 9 năm 2009 – tháng 2 năm 2010

"

Chú thích:

[32] Xin xem: Chu Xuân Giao 2005, 2006a, 2006b; Chu Xuân Giao, Phan Lan Hương 2008.


Chu Xuân Giao, 2005, “Nhân loại học Lịch sử – một nhu cầu về phương pháp từ thực tế điền dã tại Nhật Bản, dòng chảy và động thái hiện tại của cách tiếp cận này”, Tạp chí Văn hóa dân gian số 6 (102)

Chu Xuân Giao, 2006 a, “Nhân loại học Lịch sử – một nhu cầu về phương pháp từ thực tế điền dã tại Nhật Bản, dòng chảy và động thái hiện tại của cách tiếp cận này” (tiếp theo và hết), Tạp chí Văn hóa dân gian số 1 (103)

Chu Xuân Giao, 2006 b, “Historical Anthropology and the Field of Japan” [Nhân loại học lịch sử và thực tiễn Nhật Bản], Proceedings of the SOAS/TUFS Post-Graduate Symposium: London, 20-21 February 2006 (Edited by Justin Watkins and Masami Arai) http://www.soas.ac.uk/cseasfiles/tufsabstracts/CHUXuanGiao.pdf


Chu Xuân Giao, Phan Lan Hương, 2008,”Truy tìm những khoảnh chân thực riêng lẻ: về thời điểm xuất hiện của Phủ Tây Hồ từ góc nhìn nhân loại học lịch sử”, Tạp chí Văn hóa dân gian số 3 (117) năm 2008



[33] Chúng tôi tạm gọi sử học của Tạ Chí Đại Trường là tân sử học/new history theo định vị vào thập niên 1990 của Peter Burke dành cho học phái Annales khởi xướng từ Pháp; còn bản thân ông có lẽ tự gọi sử học của mình là dã sử/non-offcial history.

Vài nét về một số công trình sử học của Tạ Chí Đại Trường (quĩ Phan Châu Trinh)

Ông Tạ được trao Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh năm 2014 (bộ môn Nghiên cứu).

Dưới là nhận định của ban tổ chức giải, về các công trình của ông.


Hình như năm đó ông Tạ không có diễn từ nhận giải.


---




Cho đến hiện nay, Tạ Chí Đại Trường được xem là một trong những nhà sử học xuất sắc, có những đóng góp quan trọng, độc đáo và mới mẻ, đặt ra nhiều vấn đề không chỉ về các sự kiện, các nhân vật, các giai đoạn lịch sử riêng lẻ, mà còn là những vấn đề về cách nhìn và suy nghĩ lịch sử một cách thật sự khoa học, khách quan, chân thật.
Tạ Chí Ðại Trường quê ở Bình Ðịnh nhưng được sinh ra ở Nha Trang, đi học tại Bình Ðịnh, Nha Trang và học Đại học ở Sài Gòn. Ông tốt nghiệp Cao học sử Ðại học Văn Khoa Sài Gòn năm 1964. Ông gia nhập quân ngũ từ 1964-1974.
Năm 1974 Ông giải ngũ trở về đăng ký học tiến sĩ chuyên khoa Sử học tại Ðại học Văn Khoa Sài Gòn. Năm 1970, Ông đã nhận được Giải thường Văn chương toàn quốc, Bộ môn Sử. Từ tháng 8-1994 Ông qua Mỹ sống tại Oklahoma City. Đến năm 2002, Ông đã nghỉ hưu và hiện tại Ông đang sống ở Garden Grove City, California, USA.
Tác phẩm đầu tiên của ông, Lịch sử nội chiến Việt Nam từ năm 1771 đến năm 1802 ra mắt năm 1960 đã ngay lập tức thu hút nhiều sự chú ý, gây tranh luận, càng về sau tác phẩm càng được khẳng định giá trị ở cả trong và ngoài nước; và được tái bản rất nhiều lần, đặc biệt được tái bản hai lần ở NXB Công an nhân dân và NXB Tri thức (cùng Công ty sách Nhã Nam). Tác phẩm có thể nói đã mở ra một cách viết lịch sử mới, trung thực, đặc biệt sinh động. Và cũng từ đó cho ta những suy ngẫm sâu xa về lịch sử Việt Nam nói chung, về dân tộc và đất nước.
Một tác phẩm khác của Tạ Chí Đại Trường cũng được đặc biệt đánh giá cao, được tái bản nhiều lần trong và ngoài nước (sau năm 1975) là cuốn Thần, Người, và Đất Việt.Ông đã tiếp tục mang đến cho công chúng một cách nhìn lịch sử sâu sắc khoa học và độc đáo: lịch sử qua các thần tích. Xin trích sau đây một bình luận về vấn đề này: “Người ta đã đi từ sự quá đà coi thần tích như là hiện thân toàn vẹn của lịch sử, đến sự quá đà khác là bác bỏ hoàn toàn hay ít ra cũng đi đến hoài nghi sâu đậm. Thần tích xuất hiện qua những giai đoạn khác nhau phản ánh tâm tư của con người thời đại, níu kéo trên bước chân của mình những sự kiện xảy ra trong thời gian đó; nói cách khác, một chuỗi thần tích nối tiếp nhau về một nhân vật, nếu được đặt kề nhau, sẽ làm nổi lên dấu vết lịch sử cấu thành hình ảnh nhân vật đó”.
… (Chẳng hạn) sự lý giải về tập hợp truyện tích Hùng Vương. Một lý tính khoa học không cho phép chúng tôi tin thời đại Hùng Vương là sự thật lịch sử. Tác giả Thần, người và đất Việt cung cấp một lý giải hiển nhiên đúng đắn: Hùng Vương là “hồi quang của lịch sử vọng vào dân chúng kết tập thành ý thức”. Các tác phẩm khác của Tạ Chí Đại Trường, như Những bài văn sử, Những bài dã sử Việt, Việt Nam nhìn từ bên trong,Sử Việt đọc vài quyển, Bài sử khác cho Viêt Nam, Người lính thuộc địa Nam Kì (1861-1945) … mỗi quyển đều là một phát hiện, một cách nhìn và góc nhìn, một đóng góp độc đáo, đặc sắc, không chỉ cho việc tìm hiểu lịch sử nước nhà, mà theo một cách nào đó, cho cả khoa học lịch sử.
Một nét đặc biệt khác: Tạ Chí Đại Trường còn là một ngòi bút thực thụ. Mỗi tác phẩm lịch sử của ông đều thật sự là một tác phẩm văn học đáng giá.
Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh hân hạnh được trao Giải Nghiên cứu đến Nhà nghiên cứu Sử học Tạ Chí Đại Trường vì những đóng góp độc đáo và mới mẻ của Ông trong Nghiên cứu Sử học.
http://www.quyphanchautrinh.org/giai-phan-chau-trinh/ChiTiet/708/giai-nghien-cuu?nam=40&bc=53

Thứ Tư, 23 tháng 3, 2016

Tranh biện về nhà Mạc trong sử Việt, và phần thưởng của một giám khảo

Tin tức về cuộc tranh biện do Bảo tàng Lịch sử Việt Nam chủ trì thì đại khái như sau:



Trích nguyên văn:

"
Nhà Mạc là một trong những triều đại gây nhiều tranh cãi trong Lịch sử Việt Nam. Và sự đánh giá về nhà Mạc cũng đang thay đổi theo thời gian. Ta có thể thấy nhà Mạc từng bị các sử gia nhà Lê, Nguyễn lên án. Nhưng ngày nay, các nhà nghiên cứu lịch sử lại có những ý kiến không đồng tình với sự đánh giá của người xưa. Vậy tại sao lại có sự thay đổi ấy? Tại sao nhà Mạc lại bị người xưa lên án mà ngày nay xã hội lại công nhận công lao của nhà Mạc? Liệu nhà Mạc có thực sự có những đóng góp tích cực trong tiến trình Lịch sử Việt Nam?
Mời các bạn cùng tới tham gia Chương trình tranh biện lịch sử với chủ đề “Nhà Mạc trong tiến trình lịch sử Việt Nam, thế kỷ XVI – XVII” vào lúc 14h00, chủ nhật ngày 27/3/2016 tại hội trường tầng 2, Bảo tàng Lịch Sử Quốc Gia, số 1 Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội, để cùng hiểu thêm về triều đại này nhé 
smile絵文
"
https://www.facebook.com/BTLSQG.VNMH/posts/994734363909185




Còn phần thưởng của một vị giám khảo - học giả Trần Thị Vinh - thì xem ở dưới.

Lấy nguyên về từ Fb Trần Thị Vinh.




---

"




Sắp tới (14h ngày 27-2-2016), BẢO TÀNG LỊCH SỦ QUỐC GIA sẽ tổ chức một cuộc tranh biện lịch sử về chủ đề “NHÀ MẠC TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM, THẾ KỶ XVI - XVII” cho các đối tượng học sinh, sinh viên và những người yêu thích lịch sử nhà Mạc.

Từ nhiều ngày nay, nhiều em sinh viên rất quan tâm đến chương trình, đã nhắn hỏi, tham bác ý kiến, tìm đọc và tìm mua những sách viết về lịch sử nhà Mạc. Cuộc tranh biện chưa diễn ra nhưng tinh thần hướng tới ngày đó thật là sôi động, rất đáng hoan nghênh.

Có nhiều em sinh viên, cả những em đã là giáo viên dạy Lịch sử hay hỏi cô về một số sách mới xuất bản gần đây về Lịch sử nhà Mạc, nhưng tiếc là sách rất hiếm.

Cô đã từng tổ chức một cuộc bình thơ trên FB, tặng 2 cuốn sách về “ VƯƠNG TRIỀU MẠC VỚI SỰ NGHIỆP CANH TÂN ĐẤT NƯỚC” vào ngày 12-4-2015, do 3 Thày giáo, thơ hay, sử giỏi làm Giám khảo, hai bạn đoạt giải là: Hoàng Xuân Cường, sinh viên năm cuối ĐHSP Hà Nội- nay đã là giáo viên dạy Sử trường THPT Alfred Nobel và Đỗ Thành Danh - giáo viên dạy Sử trường THPT Ngô Quyền ở đảo Phú Quý. Một quyển nữa cô đã tặng TS. Đỗ Thị Thùy Lan - giảng viên Lịch sử tại ĐHKHXH&NV, nhân dịp Tp. Hà Nội gắn biển tên đường phố Mạc Thái Tổ và Mạc Thái Tông ( ngày 25-8-2015).

Nay cô còn cuốn sách “NHÀ MẠC VÀ HẬU DUỆ TRÊN ĐẤT VĨNH PHÚC”- là kết quả của cuộc Hội thảo lớn thứ 3 về nhà Mạc năm 2012. Sách chỉ có một cuốn, của ít lòng nhiều, cô sẽ dành tặng em nào có lời TRANH BIỆN và HÙNG BIỆN đúng nhất, hay nhất về nhà Mạc vào hôm 27-3 sắp tới. Vì hôm đó cô được mời vào trong Ban giám khảo với vai trò là Trọng tài cuộc chơi. 

(Đây là phần thưởng của cá nhân cô ngoài phần thưởng của Ban tổ chức mà cô chưa được biết đó là gì). 

Xin trân trọng thông báo với các em sắp dự cuộc chơi. (Hà Thành- 23-3- 2016-Thị Vinh Trần).



https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1681366588746882&set=a.1558602034356672.1073741828.100006206714743&type=3&theater

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2016

Vừa đi vừa đọc lại: Một phê bình về cuốn sách của Lê Thành Khôi


Bài từ năm 2015, của Phú Trường (hiện chưa rõ là bút danh của ai).

Lấy nguyên về từ tở VNCA.

---




Sách "Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX" của tác giả Lê Thành Khôi viết bằng tiếng Pháp, được dịch ra tiếng Việt và Nhà xuất bản Thế Giới ấn hành. Với hơn 600 trang sách in khổ lớn (17x25cm), tác giả là một học giả gốc Việt có danh tiếng tại Pháp và được một giáo sư sử học có uy tín trong nước viết lời giới thiệu, quả thật đã làm choáng ngợp độc giả.

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2016

Sử học Việt : không có Lê Văn Tám, cũng chẳng có Nguyễn Văn Bé (bài Mạch Quang Thắng)

Về Nguyễn Văn Bé thì có thể xem những entry cũ trên blog này, ví dụ ở đây, và ở đây.

Dưới là bài của học giả Mạch Quang Thắng. Về tác giả này, có một bài đã công bố năm 2009, ở đây.


Trong bài mới (tháng 2/2016), ông Thắng có viết:


"Lê Văn Tám làm đuốc sống vào đốt cháy kho xăng địch ở Nhà Bè thời kháng Pháp đấy! Ai cũng biết, nếu thực chứng thì chuyện đó sai lè lè, chẳng có Lê Văn Tám Lê Văn Chín gì cả. Nếu có thực chứng thì tẩm xăng vào mà đốt thì cùng lắm người bị đốt chỉ có chạy được mấy bước là gục quỵ ngay chứ không chạy nổi mấy chục mét mà vào tới kho xăng!
Cũng tương tự như vậy.
Chẳng có Nguyễn Văn Bé gì đâu. Không có chuyện đầu độc ở Phú Lợi. Không có chuyện tay không quật ngã máy bay lên thẳng UH1 của Mỹ. Không có chuyện chính quyền Ngô Đình Diệm lê máy chém đi chém giết (thực tế chỉ giết 01 người mà thôi). Vân vân. Nhiều sự kiện không có thật cứ viết vào sử. Không có chứng cớ!"


Toàn văn ở dưới.

---




  •   MẠCH QUANG THẮNG
  • Thứ hai, 29 Tháng 2 2016 19:19
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
Thực chứng là phương pháp dùng cho nhiều ngành khoa học, trong đó có khoa học lịch sử.
Ngay cả khoa học hình sự gì đó mà người ta cũng hay dùng đến phương pháp này.
Trong lịch sử Việt Nam chống xâm lược, có cuộc hành quân của Tây Sơn Quang Trung từ Phú Xuân ra bắc để tiêu diệt 290.000 quân Thanh. Người ta gọi đó là "hành quân thần tốc".
Nghe nói là để cho hành quân liên tục, không một phút nghỉ ngơi, và cũng để cho "thần tốc", quân Quang Trung mới cho thay phiên nhau cứ 2 lính khiêng võng 1 lính.
Làm như vậy thì ai cũng được ngủ nghỉ.
Và do vậy mới có hành quân liên tục được, mới "thần tốc" được, mới phá tan quân xâm lược Thanh, giải phóng thành Thăng Long ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu 1789 trước khi hạ cây nêu 2 ngày ("vượt mức kế hoạch" mà Quang Trung đã tuyên bố tại Tam Điệp - Ninh Bình là tiến vào giải phóng thành Thăng Long vào ngày hạ cây nêu - ngày 7 tháng Giêng năm Kỷ Dậu).
Chuyện trên đây không biết thực hư ra sao.
Và để thử nghiệm xem, thời hiện đại, bộ đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã "diễn lại" phương pháp hành quân đó.
Nhưng, kết quả là nếu cứ 2 người thay phiên nhau khiêng võng 1 người thì hành quân rất chậm chạp, rất khó khăn, chứ không có "thần tốc" cái chi chi cả.
Đó là mình nghe vậy. Cũng không biết có chuyện đó thật hay không. Nếu có thì mình không rõ khi áp dụng làm lại cách hành quân như thế thì có phải là áp dụng phương pháp thực chứng không.
Phương pháp thực chứng quan trọng lắm. Nhưng cũng còn tùy điều kiện. Nghĩa là có điều kiện thì áp dụng tốt, không có điều kiện thì không thể áp dụng được.
Cuộc tọa đàm khoa học diễn ra chiều 26-2-2016 tại Hoàng Thành Thăng Long (Hà Nội) với chủ đề ẤN GỖ "SẮC MỆNH CHI BẢO" PHÁT HIỆN TRONG ĐỢT KHAI QUẬT KHẢO CỔ HỌC TẠI HOÀNG THÀNH THĂNG LONG NĂM 2012 - 2014 do Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long thuộc Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội tổ chức dấy lên nhiều ý kiến khác nhau.
Trong hàng loạt ý kiến như vậy, mình thấy có ý kiến rất đáng chú ý liên quan tới phương pháp thực chứng là: Tại sao bàn về chiếc ấn gỗ (hay mẩu gỗ) khắc chữ "Sắc mệnh chi bảo" mà lại không thấy đưa hiện vật ra cho người tham dự trông thấy?
Nghe nói đến thời gian cuối của cuộc tọa đàm khoa học này, người ta mới "rinh" cái hiện vật đó đến cuộc tọa đàm. Để kết luận hiện vật đó có phải là "ẤN" hay không, và nếu nó là ấn thì có phải là "ẤN ĐỜI TRẦN" hay không thì còn cả một quãng thời gian dài, mà chưa chắc đã kết luận thỏa đáng, chưa chắc đã làm cho mọi người tâm phục khẩu phục, vì chứng cớ chưa thật rõ.
Điều này nói rằng, phương pháp thực chứng quan trọng lắm đối với nghiên cứu khoa học lịch sử. Khi chưa có thực chứng, chưa có gì là chắc chắn thì chớ có kết luận gì cả.
Hãy đợi đấy!
Lầm lẫn, sai lệch cứ như chơi!
Lê Văn Tám làm đuốc sống vào đốt cháy kho xăng địch ở Nhà Bè thời kháng Pháp đấy! Ai cũng biết, nếu thực chứng thì chuyện đó sai lè lè, chẳng có Lê Văn Tám Lê Văn Chín gì cả. Nếu có thực chứng thì tẩm xăng vào mà đốt thì cùng lắm người bị đốt chỉ có chạy được mấy bước là gục quỵ ngay chứ không chạy nổi mấy chục mét mà vào tới kho xăng!
Cũng tương tự như vậy.
Chẳng có Nguyễn Văn Bé gì đâu. Không có chuyện đầu độc ở Phú Lợi. Không có chuyện tay không quật ngã máy bay lên thẳng UH1 của Mỹ. Không có chuyện chính quyền Ngô Đình Diệm lê máy chém đi chém giết (thực tế chỉ giết 01 người mà thôi). Vân vân. Nhiều sự kiện không có thật cứ viết vào sử. Không có chứng cớ!
Trong khoa học lịch sử, làm sao mà mà tái hiện trong những trang viết những việc của ngày xửa ngày xưa? Không nói những việc xa lắc xa lơ, mà ngay cả những sự kiện mới 30 - 40 năm nay thôi mà người thì bảo thế này, người thì bảo thế kia, chẳng ai nhất trí được với ai.
Có những việc đâu có áp dụng phương pháp thực chứng được. Vì thế mới phải dựa vào phương pháp đa ngành hay liên ngành.
Cố giáo sư Trần Quốc Vượng khoái phương pháp đa ngành, liên ngành lắm. Ổng "chơi" với nhiều nhà khoa học ở rất nhiều ngành và chuyên ngành khác nhau, quảng giao, nhưng rốt cuộc là ổng học bạn để dùng cho cho việc SỬ của ổng.
Nghiên cứu lịch sử mà chỉ có dựa vào tài liệu thành văn thì chết ngắc.
Thời Hùng Vương gì đó, xứ mình làm gì có tài liệu thành văn. Do vậy, phải đi vòng qua tài liệu thành văn của nước khác, tài liệu của đời sau viết, tài liệu của dân tộc học/nhân học, tài liệu khảo cổ học, tài liệu văn hóa văn nghệ dân gian, v.v.Nghĩa là cần nhiều, vô thiên lủng các tài liệu khác để kiểm chứng nó, hiểu đúng nó.
Thế cho nên, đọc một số cuốn sử, do người viết chưa dựa vào nhiều nguồn tài liệu, mình thấy lịch sử gì mà cứ nhuốm màu truyền thuyết. Nhuốm màu đó là do người viết chuộng truyền thuyết, chỉ dựa vào truyền thuyết mà thôi.
Trong nghiên cứu lịch sử hiện đại cũng vậy. Đã không áp dụng phương pháp thực chứng thì chớ, rất nhiều người nghiên cứu (cứ tạm gọi là "nhà khoa học" đi) lại cứ "viết dựa". Mình dùng hai chữ "viết dựa" cho lịch sự, chứ thực ra đó là ăn cắp, là đạo, là thuổng, là chôm của người khác. Bệnh này là bệnh của lười biếng, là được chăng hay chớ. Có khi bệnh này lại đẻ ra từ những "miệng nhà quan" rồi bắt người khác phải công nhận.
Họ không dựa vào tài liệu gốc. Cũng chẳng dựa vào tài liệu cơ bản (tuy không phải là gốc nhưng đáng tin cậy hơn), lại dựa vào tài liệu mà người ta đã biên soạn rồi. Thành thử thuổng, chép cả cái sai của người ta thành của mình.
Cái sai chồng lên cái sai. Ngày này qua ngày khác. Năm này qua năm khác. Thế kỷ này qua thế kỷ khác.
Thế rồi thành chân lý!
Mình có thể dẫn ra ti tỉ trường hợp về vấn đề này.
Nếu không kiểm chứng gì sất, nếu không thực chứng thì cứ viết bừa thôi. Rõ nữa là trong các sách giáo trình, giáo khoa lịch sử. Cứ chép lẫn nhau thôi. Một số tác giả còn chua câu ở lời mở đầu là kế thừa công trình này, công trình nọ. Trong phần kê "Tài liệu tham khảo" thì có ghi là tài liệu, sách của người này, người nọ. Nhưng kỳ thực, đó cũng là chép lại thôi.
Cái sai, cái hời hợt được/bị tán phát theo cấp số nhân.
Tệ hại nhất là đã đọng lại trong đầu của nhiều thế hệ học trò những tri thức ất ơ đó. Thẩm định hời hợt một hiện vật, một di tích gì đó rồi kết luận cứ như đinh đóng cột rồi hằng năm tổ chức lễ hội, khấn vái, "phát ấn", diễn ra "cướp có văn hóa", dẫn khách du lịch đi tùm lum.
Tháng 2, sau Tết Bính Thân (2016), mình nhận được yêu cầu của Tổng Biên tập một tạp chí sử học về việc thẩm định bản thảo bài viết của một nhà khoa học gửi tới đăng tạp chí. Bài viết này nêu ra ý kiến ("nhận thức") trên cơ sở của một bản hồi ký.
Mình cảm thấy khó chịu.
Trước hết, hồi ký là dạng tài liệu không đáng tin cậy. Hồi học ở trường, bọn mình đã được quý thầy cô dạy như thế rồi. Vậy, khi sử dụng hồi ký, phải kết hợp với nhiều tài liệu khác để đối chiếu, kiểm tra, xác minh rồi mới có thể kết luận được.
Hai là, hồi ký mà nhà khoa học này dựa vào để "nhận thức" không phải là bản gốc, nó được đăng qua một tạp chí khác. Độ tin cậy như thế lại càng xa vời. Hồi ký bản gốc còn "chưa ăn ai", huống hồ đây lại là bản hồi ký đã qua tay người khác.
Mắc lỗi ngay từ khâu phương pháp. Ý kiến của mình gửi đến ông Tổng Biên tập tạp chí đó là cứ cho đăng, nhưng phải có lời của Ban Biên tập. Đăng để người đọc biết rõ cái phương pháp của nhà khoa học đó đã sử dụng như thế nào. Không biết tạp chí đó có đăng không.
Tác phẩm sử học nào được viết dựa trên cơ sở tài liệu xác đáng thì rất đáng tin cậy. Tài liệu gốc là số 1. Rồi các sự kiện, các nhận định có điều kiện thì nên được miêu tả, nhận định trên cơ sở thực chứng. Viết thế mới có sức thuyết phục. Chứ mình thấy, ngành sử là hay chép lại lẫn nhau nhiều nhất.
 
Viết tại Hà Nội, ngày 29-2-2016

 http://vanhoanghean.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/dien-dan/thuc-chung-hay-la-nganh-su-la-hay-chep-lai-lan-nhau-nhieu-nhat






Bổ sung

Trường học dùng ảnh tử tù làm minh họa anh hùng Lê Văn Tám


 - Trường Tiểu học và THCS Phú Xuân (huyện Tam Nông – Đồng Tháp) sử dụng hình ảnh một hung thủ giết người để minh họa cho nhân vật Lê Văn Tám.
Chiều ngày 22/4, trao đổi với VietNamNet, ông Lê Phước Hậu – Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tam Nông (Đồng Tháp) xác nhận thông tin trên là có thật.
Theo ông Hậu, đây là công trình măng non “Trang sử hồng trường ta” được phòng GD-ĐT của huyện chỉ đạo các trường làm nhằm giúp các em học sinh hiểu rõ hơn về các nhân vật lịch sử, những tấm gương dũng cảm.
tử tù, Lê Văn Tám
Trường trường Tiểu học và THCS Phú Xuân nơi xảy ra sự cố 
“Trong quá trình làm thì trường Tiểu học và THCS Phú Xuân đã nhờ 1 đơn vị in ấn hỗ trợ in hình ảnh và tiểu sử các nhân vật lịch sử, trong đó có anh hùng Lê Văn Tám. Tuy nhiên, có thể nhà trường đã để cơ sở in ấn tự lên mạng tìm thông tin và hình ảnh của nhân vật anh hùng Lê Văn Tám nên mới dẫn đến sự nhầm lẫn nghiêm trọng này. Chúng tôi đang xác minh để làm rõ” – ông Hậu cho biết.
Cũng theo ông Hậu, hình ảnh nhầm lẫn này đã diễn ra từ đầu năm 2015 đến nay, nhưng không ai biết đó là hình ảnh của tên tội phạm. Đến ngày 20/4/2016, đoàn mô tô học bổng từ thiện từ Sài Gòn đến trường trao quà cho học sinh nghèo thì một số thành viên trong đoàn phát hiện ra ảnh tuyên truyền không phải là của anh hùng Lê Văn Tám nên thông báo cho lãnh đạo nhà trường.
“Hiện Phòng giáo dục và đào tạo huyện đã chỉ đạo nhà trường gỡ bảng tiểu sử này xuống. Đồng thời, chúng tôi cũng yêu cầu tất cả các trường trong huyện rà sót lại những bảng tiểu sử của các nhân vật lịch sử đang được treo. Đây là sự cố nghiêm trọng nên chúng tôi sẽ chỉ đạo xử lý phù hợp để không ảnh hưởng đến sự hiểu biết của các em học sinh đối với những nhân vật anh hùng lịch sử. Tuyên truyền về lịch sử phải đúng, chính xác, nếu không đúng sẽ bị phản tác dụng” – ông Hậu khẳng định.
tử tù, Lê Văn Tám
Bảng tiểu sử anh hùng Lê Văn Tám được lấy hình hung thủ giết người để minh họa. (Ảnh: HX)
Còn theo ông Nguyễn Văn Na - Chủ tịch UBND huyện Tam Nông: “Tôi đã chỉ đạo Phòng GD - ĐT huyện tháo gỡ các bảng tuyên tuyền sai này xuống và thu gom về phòng để xử lý. Đồng thời, yêu cầu Phòng phải chỉ đạo các trường rà soát lại trên địa bàn còn xảy ra trường hợp nào tương tự, có ai chỉ đạo và tham gia thực hiện các bảng tuyên truyền nội dung sai trái này không. Tôi đã đề nghị công an huyện vào cuộc để điều tra, làm rõ vụ việc” – ông Na khẳng định.
Theo tìm hiểu hình ảnh anh hùng Lê Văn Tám được trường Tiểu học và THCS Phú Xuân sử dụng là của Lê Văn Tấn (SN 1978, ngụ tại ấp Kênh 2A, xã Phước Lập, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang) – hung thủ giết người, hiếp dâm bé gái 7 tuổi.
Theo đó, trưa 30/1/1997, Tấn dụ bé Đ. T. N. C. cùng ấp ra gò đất ngoài ruộng để ăn dừa. Tại đây, Tấn đòi quan hệ nhưng C. không đồng ý và dọa sẽ nói việc này lại cho ông nội biết. Sợ bị phát hiện, Tấn dùng tay bóp cho đến khi bé C. bất tỉnh, rồi giở trò đòi bại. Sau đó, Tấn kéo xác nạn nhân dìm xuống ao bùn phi tang. Cơ quan công an tỉnh Tiền Giang đã vào cuộc điều tra và bắt bắt được Tấn, sau đó y bị tuyên tử hình.
  • Hoài Thanh
  • http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/300994/truong-hoc-dung-anh-tu-tu-lam-minh-hoa-anh-hung-le-van-tam.html