Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghệ-An. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghệ-An. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2016

Chung và riêng giữa Tân Sử học và Dân tộc học (tôi viết về Tạ Chí Đại Trường, năm 2010)

Bài đã viết từ lâu, khoảng 6 - 7 năm về trước. Đã in năm 2010, sau đó đăng lại trên mạng Da Màu (ở đây).

Khác với một số bản thảo liên quan đến sử học, riêng bài này, không có điều kiện trao đổi với ông Tạ. Bởi lúc đó, ông Tạ báo là sức khỏe không tốt (một bài khác về cùng chủ đề Tứ Vị Thánh Nương ở Nghệ An công bố trước bài này, thì trao đi đổi lại nhiều lần).

Về bản toàn văn, nếu trên mạng thì đọc ở Da Màu. Dưới là đoạn viết về cách tiếp cận Sử học (Tân Sử học) của Tạ Chí Đại Trường, cũng là chỗ chung và chỗ riêng với Dân tộc học - Nhân loại học Văn hóa của tôi.


Nguyên văn:

"

Như đã trình bày ở trên, các ghi chép thực tế và có chiều sâu về Bà Chúa/ Cửa Chúa của Đắc Lộ với những niên đại biên soạn và xuất bản được xác định rõ ràng là những tư liệu vô cùng quí giá cho nghiên cứu (lịch sử, lịch sử tôn giáo). Tuy nhiên, chúng tôi không sử dụng chúng chỉ đơn thuần là tài liệu lịch sử, mà muốn khai thác những giá trị dân tộc chí ẩn chứa trong đó, tức là xem chúng như những dân tộc chí được hình thành từ những ghi chép thực địa cần mẫn và tinh tường của giáo sĩ Đắc Lộ. Về cụ thể, bằng cách đọc lại như trên trước khối tư liệu vốn không hề xa lạ với bạn đọc, nhất là với các linh mục công giáo, chúng tôi đi đến một kết luận khác với các nghiên cứu đi trước, rằng: Cửa Chúa trong ghi chép của Đắc Lộ đích thực là (và chỉ là) Cửa Cờn hay Cửa Lạch Cờn[31] (hiện ở tại xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An). Đó là một cửa bể gắn bó một cách duyên cớ với lữ trình truyền giáo của Đắc Lộ ở Đàng Ngoài hồi thế kỉ XVII.

Cuối cùng, cần thiết nói rằng, điều chúng tôi quan tâm đến lai lịch/truyền thuyết của TVTN, tức của Bà Chúa, không phải là việc truy tìm đâu là lai lịch đúng giữa các nguồn tư liệu, mà là hướng đến việc sẽ nắm bắt sự lưu chuyển của lai lịch ấy qua trục thời gian, rút cục là để có thể nhìn thực tại đương đại ở một bình diện sâu sắc hơn. Sự lưu chuyển của truyền thuyết, bản thân nó đã là lịch sử, nhưng quan trọng hơn, theo chúng tôi là những soi chiếu hay ánh phản vào trong mình nó của thực tại và tâm thế của những thời đại đã bao chứa và chỉnh sửa nó. Sự tiếp nhận và chỉnh sửa của hiện tại, tức thời đại chúng ta đang sống, có thể tìm thấy mầm mống ngay trong, hay chịu sự chi phối một cách mặc định của, dòng lưu chuyển vốn không ngừng nghỉ đó của truyền thuyết. Truyền thuyết, với tính cách là một yếu tố văn hóa, theo cách tiếp cận nhân loại học lịch sử của chúng tôi[32], không phải là nội dung của nó, dù là nội dung tĩnh trên những lát cắt thời gian hay nội dung tổng hợp siêu thời gian, mà chính là ở sự chuyển động trong mối tương quan với thực tại và tâm thế xã hội của nội dung ấy qua các thời đại.

Quan điểm từ sử học về “thần tích” (qua trường hợp cụ thể là Phù Đổng thiên vương) của Tạ Chí Đại Trường trước đây (giữa thập niên 1980), và quan điểm về “truyền thuyết” của chúng tôi (qua trường hợp cụ thể là TVTN) ở đây đã có một điểm gặp gỡ quan trọng. Đồng thời, cũng có sự khác nhau trong hướng đích của tân sử học (new history hay non-offcial history[33]) và nhân loại học lịch sử (historical anthropology, theo quan điểm của chúng tôi). Tạ Chí Đại Trường đã viết: “Thần tích xuất hiện qua những giai đoạn khác nhau, phản ánh tâm tư của con người thời đạ, níu kéo trên bước chân của mình những sự kiện xảy ra trong thời gian đó, hay nói cách khác, một chuỗi thần tích nối tiếp nhau về một nhân vật nếu được đặt kề nhau sẽ làm nổi lên dấu vết lịch sử cấu thành nhân vật đó. Ở đây chúng ta không tìm một khuôn mặt nhạt nhòa qua thời gian mà đi tìm một khuôn mặt hình thành qua thời gian, và lẽ tất nhiên sẽ thấy được khuôn mặt lúc khởi đầu” [Tạ Chí Đại Trường 2009 : 79]. Rõ ràng, cái gọi là “sự chuyển động trong mối tương quan với thực tại và tâm thế xã hội của nội dung qua các thời đại”, với cái gọi là “khuôn mặt hình thành qua thời gian” là một sự gặp gỡ. Nhưng sau khi gặp nhau, đích hướng của hai bên lại chĩa về hai ngả không giống nhau, một bên là tiếp tục truy cứu ngược dòng lịch sử để hầu thấy được “khuôn mặt lúc khởi đầu”, một bên thì sẽ quay về với thực tại đương đại (ở bài này, chưa thực hiện được)./.

Hà Nội, tháng 9 năm 2009 – tháng 2 năm 2010

"

Chú thích:

[32] Xin xem: Chu Xuân Giao 2005, 2006a, 2006b; Chu Xuân Giao, Phan Lan Hương 2008.


Chu Xuân Giao, 2005, “Nhân loại học Lịch sử – một nhu cầu về phương pháp từ thực tế điền dã tại Nhật Bản, dòng chảy và động thái hiện tại của cách tiếp cận này”, Tạp chí Văn hóa dân gian số 6 (102)

Chu Xuân Giao, 2006 a, “Nhân loại học Lịch sử – một nhu cầu về phương pháp từ thực tế điền dã tại Nhật Bản, dòng chảy và động thái hiện tại của cách tiếp cận này” (tiếp theo và hết), Tạp chí Văn hóa dân gian số 1 (103)

Chu Xuân Giao, 2006 b, “Historical Anthropology and the Field of Japan” [Nhân loại học lịch sử và thực tiễn Nhật Bản], Proceedings of the SOAS/TUFS Post-Graduate Symposium: London, 20-21 February 2006 (Edited by Justin Watkins and Masami Arai) http://www.soas.ac.uk/cseasfiles/tufsabstracts/CHUXuanGiao.pdf


Chu Xuân Giao, Phan Lan Hương, 2008,”Truy tìm những khoảnh chân thực riêng lẻ: về thời điểm xuất hiện của Phủ Tây Hồ từ góc nhìn nhân loại học lịch sử”, Tạp chí Văn hóa dân gian số 3 (117) năm 2008



[33] Chúng tôi tạm gọi sử học của Tạ Chí Đại Trường là tân sử học/new history theo định vị vào thập niên 1990 của Peter Burke dành cho học phái Annales khởi xướng từ Pháp; còn bản thân ông có lẽ tự gọi sử học của mình là dã sử/non-offcial history.

Thứ Năm, 17 tháng 3, 2016

Vừa đi vừa đọc lại : họ Mạch ở khu vực Đền Cờn (Nghệ An)

Đọc bài của Mạch Quang Thắng.

Về tác giả này, blog này đã chạy một số bài của ông.

Đến bây giờ thì biết ông là người họ Mạch ở khu vực Đền Cờn.

Những lúc du lãng ở vùng phủ Diễn Châu ngày trước, nay là khu huyện Quỳnh Lưu và huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An, vẫn thi thoảng gặp người họ Mạch.

Bài này của Mạch Quang Thắng chỉ có giá trị duy nhất đối với tôi: xác nhận ông là người họ Mạch ở khu Đền Cờn.


Lấy nguyên về từ VHNA.

---

Mục lục số 311 [25.2.2016]


"2.     VĂN HOÁ VÀ ĐỜI SỐNG
TT
Số đăng
tải
Ngày phát hành
Tên bài
Tác giả
1
311
25/02/2016
Thưởng đỉnh Mỹ - ASEAN thành công đến đâu?
Đinh Hoàng Thắng
2
Đền Cờn – Điều đã mất khi nhìn thấy điều còn lại
Mạch Quang Thắng
"


Tôi  bài này với tâm trạng của một người thụ hưởng giá trị văn hóa của đền Cờn. Tôi không muốn phán xét. Tôi có thể nêu nhận biết của mình khi nhìn lại đền Cờn sau hơn 50 năm đã qua với một tâm trạng bình thường như bao con người khác mà đạo Phật đã chỉ giáo về 6 lục tình: HỈ, NỘ, ÁI, Ố, AI, LẠC.
Quan niệm
Quan niệm "ĐỀN CỜN" ở trong bài này là gồm hai ngôi đền làm thành một thể thống nhất (hai trong một). Tôi đã đọc nhiều tài liệu, nhiều sách, nhiều bài đã công bố trên các phương tiện truyền thông thì người ta gọi đền Cờn bằng nhiều tên khác nhau. Truyền thuyết về đền Cờn thì cũng lắm.
Còn tôi, tôi gọi đúng tên đền Cờn như người dân bản địa ở đây đã gọi. ĐỀN CỜN là chung cho cả hai đền, đó là ĐỀN TRONG và ĐỀN NGOÀI. Đền Trong là đền phía trong làng Cờn, tọa lạc mé sông Hoàng Mai, trên một gò đất, trên bến dưới thuyền, cây đa bến nước, ngày xưa có chợ phiên tấp nập cạnh bên. Còn đền Ngoài là ngôi đền nằm trên mỏm của núi Thằn Lằn (trong nhiều sách gọi là núi Hùng Vương), cái mỏm núi này nhô ra biển - tạo nên một cảnh sơn thủy tuyệt đẹp.
Đại thi hào Nguyễn Du đã đến đền Cờn và đã có một bài thơ. Không biết là Nguyễn Du viết bài thơ ấy về đền Trong hay đền Ngoài. Chắc là đền Trong.
Còn nhiều vua Trần trên đường chinh chiến có ghé vào đền Cờn, không rõ là ghé vào đền Ngoài hay là đền Trong. Chắc là đền Ngoài.
Đền Cờn tọa lạc ở làng Phương Cần xưa, bây giờ là phường Quỳnh Phương thuộc thị xã Hoàng Mai tỉnh Nghệ An. Làng Phương Cần (đọc trẹo đi là Cờn) có tên nôm là kẻ Càn (kẻ Cờn). Gọi là kẻ, hình như đó là tên của nhiều làng cổ mà tôi thường thấy ở vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, là nơi phên dậu Hoan Châu của Đại Việt xưa. Xung quanh kẻ Càn (Quỳnh Phương), còn có kẻ Sòi (Quỳnh Lộc), kẻ Trắp (Quỳnh Lập), kẻ Xóm (Quỳnh Liên), kẻ Đáy (làng Ngọc Huy, làng gốc của gia đình văn nghệ nổi tiếng của cố thiếu tướng nhạc sĩ An Thuyên), v.v.
Tôi viết lòng thòng như vậy là để nhấn mạnh một điều rằng, có "hai trong một", do vậy, khi tổ chức lễ hội gì đó, hay khi đầu tư trùng tu thì nên gộp hai đền đó vào cùng một như cái vốn có, như cái cần có. Cần như thế và chắc chắn như thế. Đừng có tách rời đền Trong và đền Ngoài ra. Thật ra, ở đền Ngoài, tính chất đền và chùa pha trộn nhau. Điều này có nguyên do của nó. Nhưng mà thôi, tôi sẽ viết riêng ở dịp khác. Đền và chùa pha trộn là nói về những bức tượng ở đó, có cả tượng phật nghìn mắt nghìn tay, nhưng chỉ để ở gian chái, còn chính giữa vẫn là tính chất đền đậm đặc.
Mất và còn - còn và mất
Người làng Phương Cần xưa kia gắn nhiều với các lễ hội. Đến nỗi mà không chỉ dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có lúc nhắc nhở bơn bớt đi, mà từ thời xưa đã có nhiều lần bị phê phán về việc dân làng tổ chức ra quá nhiều lễ hội hằng năm, kèm cả hủ tục và mê tín dị đoan, rất tốn kém, tốn kém cả tiền của và thì giờ.
Cũng có nguyên do. Làng Phương Cần chủ yếu là làng chài; dân chủ yếu là dân đánh cá, trừ một số rất ít hộ làm nông (nay không còn đất mà làm nông nữa). Cái điểm chung của dân đi biển là hay thờ phụng để mong có chữ AN. Mấy ngôi đền, chùa ở trong làng chính là những sinh hoạt văn hóa phi vật thể hay là cái không gian văn hóa mà trên đấy cư dân chài lưới thờ cúng cho sự THUẬN: thuận buồm xuôi gió, xuôi chèo mát mái, cá tôm đầy khoang, là an toàn tính mạng. Vì đi biển ngày xưa không như bây giờ có thuyền to, có máy móc và nhiều phương tiện dự báo thời tiết, chứ lúc xưa chỉ có chèo tay và nhờ sức gió cánh buồm; dự đoán thời tiết chỉ dựa vào kinh nghiệm. Số ngư dân bị chết ngoài biển hằng năm khá nhiều, nhất là những khi biển động, bão tố.
1. Đền Cờn vẫn thế, nếu tính tới đặc tính văn hóa tâm linh, tín ngưỡng của nó.
Đây đích thực là ngôi đền thờ Mẫu (Mẹ). Đền Ngoài chỉ là đền phụ mà thôi. Thờ Mẫu là tín ngưỡng rất phổ biến của người Việt. Ở Quỳnh Phương trước đây, người ta kiêng gọi tiếng "Mẹ" mà gọi mẹ đẻ của mình là "Chị" là để tránh húy tín ngưỡng. Mãi cho đến cuối những năm 60 đầu những năm 70 của thế kỷ trước, khi cuộc sống hiện đại làm ổ vào tâm thức lớp trẻ thì người ta chuyển dần một cách tự nhiên không ai gượng ép, từ gọi "Chị" sang gọi "Mẹ".
Thờ Mẫu là cái hồn cốt của đền Cờn, bên cạnh đó, xưa nữa có thờ thần hạt lúa, gắn với cả ước mong phồn thực trong mùa màng làm ăn, vì ở đây xưa tuy là chủ yếu làng chài nhưng vẫn có một phần dân cư làm nông nghiệp. Tứ vị thánh nương chỉ là cái cớ thôi, chứ đâu chủ yếu là tứ vị thánh nương. Cái lấn át của truyền thuyết là những đời sau dựng lên. Thật chẳng có Tống phi hay hoàng tộc triều nhà Tống bên Tàu gì ở đây cả. Chính vì cái vị thờ Mẫu phổ biến trong tín ngưỡng dân gian của người Việt này mà cho đến nay tôi thấy cơ man nào là đền thờ Mẫu kèm theo dạng thờ Tứ vị thánh nương ở nhiều nơi miền bắc. Thanh Hóa, Hưng Yên, Hà Nội, v.v. có nhiều đền thờ loại này lắm, mà nghe nói cái gốc là từ đền Cờn này. Ông Hoàng Tuấn Công (Tuấn Công thư phòng) đã có một loạt bài về "Đền Cờn xứ Nghệ ra Thanh" đăng ở đâu đó nói rõ vấn đề này.
Vẫn còn đó những lễ hội tháng Giêng hằng năm, người ta bây giờ gọi là lễ hội đền Cờn, có đua thuyền ,có hội "Chạy Ói". Ngày xưa chỉ có một tên duy nhất là lễ hội "Chạy Ói" chứ người ta không gọi là lễ hội đền Cờn. Hội đua thuyền là phần tất yếu phải có và nó đã hiện diện xưa nay ít khi bỏ đi, trừ lúc có chiến tranh phá hoại ác liệt. Nó là cái tiêu biểu của sự biểu đạt sức sống của quần tụ ngư dân làng Phương Cần.
2. Mất thì mất nhiều lắm. Có cái mất do thiên nhiên. Có cái mất do sự ấu trĩ của con người. Có cái mất do lòng tham, do đói kém.
Người ta bảo đền Cờn đẹp đầu bảng Nghệ Tĩnh, nghĩa là nó đứng thứ nhất trong tốp 4 ngôi đền ở Nghệ Tĩnh (Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch, tứ Chiêu Trưng). Nhưng nói đến đền Cờn là nói đến cả quần thể, nghĩa là cả cái khuôn viên rất đẹp. Khuôn viên ấy một thời là cả gần 10 héc ta. Giờ, xót xa thay, không còn cái khuôn viên sáng láng nên thơ ấy nữa. Đền Cờn được xây dựng về sau là từ thời nhà Trần. Trước đấy nữa là thời Lý. Nhưng cái còn lại sau này chủ yếu là từ thời nhà Nguyễn với kiến trúc cực đẹp, lộng lẫy, tinh xảo. Đền có tường thành bao quanh. Cái khuôn viên gần 10 héc ta đó nằm trên mé sông Hoàng Mai uốn khúc tạo thành một quần thể có lẽ không thể nào đẹp hơn. Trên bến dưới thuyền, xa xa là những dãy núi đá vôi. Mỗi khi thủy triều lên, cửa sông sáng láng nước biển ùa vào, nước sông dâng lên tận xa xa như biển rộng. Khuôn viên hình vuông, có hàng loạt cây cổ thụ: cây đa, cây gạo gai, cây xoài, muỗm, v.v,.
Thật đáng tiếc, qua bao cuộc bể dâu, nay khuôn viên, khung cảnh của ngôi đền Trong và cả ngôi đền Ngoài đã bị biến dạng một cách thảm hại!
Đầu tiên, người ta làm cầu bê tông kiên cố giải quyết được giao thông giữa hai bờ sông từ Quỳnh Phương nối lên các vùng phía bắc thay cho đi đò ngang. Dân có cầu đi. Đó quả là cái phúc. Nhưng cái họa ở đây là cách làm cầu. Để cho chiếc cầu ngắn lại, người ta đắp đập, đắp đê ngăn hẹp dòng sông lại, kết hợp đắp đê trước đây để làm đồng muối. Vì vậy, dòng sông trước mặt đền Trong bị nghẽn lại đến thảm hại. Thủy triều vẫn như muôn đời xưa nhưng không có cái thế lai láng, tràn trề nước, mà trông có vẻ bức bách, tắc dòng.
Năm 1966 hay năm 1967 gì đó, máy bay Mỹ ném bom đánh phá mấy cái sà lan chở hàng theo kênh Nhà Lê từ Thanh Hóa vào đỗ ở khu vực gần đền, cho nên đền Trong bị hỏng sạt mất mấy tòa sau.
Có lẽ do có tiếng là thiêng chăng, nên ngôi đền Trong và ngôi đền Ngoài không bị phá đi trong lúc lập các hợp tác xã hoặc trong thời kháng Pháp khi quan niệm rằng, đền đài là di tích của chế độ phong kiến xấu xa cần phải phá bỏ. Trong khi đó, ngôi chùa tuyệt đẹp với khung cảnh nên thơ và các tượng đá nguy nga thì lại bị phá nhường chỗ cho xây dựng cơ ngơi của khu bộ xí nghiệp sản xuất muối (Khu diêm trường muối Ngọc Huy).
Nay, nhiều cây cổ thụ đã bị chết. Trước đây, có cây đa ở ngay sát mép sông hàng trăm năm, nhiều lúc thủy triều lên, nước mặn tràn dưới gốc mà vẫn tươi tốt. Cành cây đa này tản ra, xòe thấp làm chỗ đệm cho bọn trẻ tắm sông trèo lên nhảy ùm xuống từng đợt tắm. Cây đa này đã từ biệt con người. Khuôn viên đền Trong bị thu hẹp lại một cách nhức nhối. Còn đền Ngoài thì còn bi đát hơn. Năm 1979, khi Trung Quốc đổ quân xâm lược biên giới phía bắc, một tâm lý ghét Tàu dâng cao. Một số người có máu mặt trong làng hô phá nát ngôi đền vì cho rằng di tích này liên quan đến thờ người Tàu! Tình trạng bị bồi thêm một nhát nữa. Cũng những năm đói kém đó, người ở đâu chứ không phải người của làng Phương Cần Quỳnh Phương, đến tìm vàng ở đó. Họ vật các tượng ra, phá nát để hy vọng tìm vàng trong các bức tượng. Nhất là các bức tượng người Chiêm Thành, họ moi bụng, đập đầu để tìm vàng. Chắc chẳng có vàng ở đó. Ngôi đền Ngoài tan hoang. Sau này có dựng lại, không ra dáng gì cả, những dấu tích xưa hầu như không còn.
3. Bây giờ, thời du lịch lên ngôi. Xô bồ hết chỗ nói. Đó là sự lấn át của lộn xộn, của cái thô kệch, của cái chủ trương chưa phù hợp.
Ngày xưa, người ta đến làm lễ ở đền Trong và đền Ngoài là thực sự thành tâm cho việc gì đó trong gia đình. Mà tít tận ngoài các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ cũng vào trong khi đó đi lại lúc ấy còn rất nhiều khó khăn. Bây giờ người ta đến đền với bao nhiêu tâm trạng lành dữ mà không lường được. Dọc từ chân cầu đến cửa đền Trong là dãy hàng cá tươi, nước mắm, hàng khô, quầy ăn uống lộn xộn, mất vệ sinh. Đành rằng phải có, nhưng nên để xa ra và sắp xếp cho có ngăn nắp. Chân núi lên đền Ngoài ở bờ biển thì có người chực dưới để ngả nón ăn xin!
Lễ hội thì từ lâu đã bị phía chính quyền can thiệp. Khổ! chính quyền can thiệp vào cái này mà làm chi. Giá trị văn hóa của dân thì phải trả lại cho dân. Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch đã nói thế rồi. Tuy rằng, ngày 29-1-1993, đền Cờn đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ra Quyết định số 68/QĐ-BVHTT công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, nhưng như thế không có nghĩa là chính quyền cứ "xắn tay" vào mà đứng ra tổ chức lễ hội và "quản lý" ngôi đền. Tốt nhất là chính quyền chỉ nên hỗ trợ, hướng dẫn lễ hội. Ngày trước, cùng lắm là các hợp tác xã đánh cá đứng ra hợp lực tổ chức lễ hội, chính quyền đứng ngoài ủng hộ. Thế mà lễ hội ra lễ hội, dân làng thật vui nổ trời nổ đất.
Nay chính quyền còn tận thu cho ngân sách. Lạ! thu hàng tỷ đồng hằng năm. Vị chi đền Cờn đã trở thành cái "Cây ngân sách" mà hái ra tiền. Chắc là không có cái kiểu toàn bộ tiền cúng viếng, lễ hội dành cho tu bổ đền và tổ chức lễ hội đâu. Văn hóa đã bị biến dạng rồi.
4. Một ngôi đền thờ Mẫu nổi tiếng. Lại được/bị nhuốm màu tâm linh thần bí, nổi tiếng thiêng. Một ngôi đền nổi tiếng đẹp, trước kia càng đẹp, bây giờ mặc dù đã bị "sứt mẻ" nhưng vẫn còn duyên. Không biết đền Cờn thiêng từ đâu, duyên từ đâu. Nó thiêng từ truyền thuyết. Nó thiêng từ sử chép mấy lần vua Trần đi đánh Chiêm Thành vào cầu khấn và thắng trận (Trần Thái Tông, Lê Thánh Tông), rồi nghe nói cả Quang Trung đều ghé qua. Nó nên thơ nữa là có duyên Đại thi hào Nguyễn Du đến thăm để lại thơ:
Mặt nước mênh mông bể lẫn trời
Ngôi đền thấp thoáng bãi ngoài khơi
Bến phú chiều tà cây man mác
Cửa bể thu dần khói tả tơi...
Phát triển du lịch?
Vâng, thì phát triển du lịch. Nhưng hãy cẩn thận. Nếu không, sẽ làm hỏng cả đền Cờn và lễ hội để rồi đến các thế hệ con - cháu - chắt - chít sau này chẳng còn cái gốc đền Cờn với tư cách là một không gian văn hóa dân gian.
Du lịch gì mà con đường từ Quốc lộ 1 đến đền Trong có 3 cây số mà đường không ra đường. Đường dân sinh còn chưa ra hồn chứ đừng nói là đường để phát triển du lịch! Nghe nói định dựng tượng vua Trần gì ở đó nữa. Xin đừng. Tượng đài trong lòng dân. Đừng tượng đài gì hết. Hãy dọn bãi cho du lịch đúng và hợp sinh thái. Các hàng quán cho trật tự sạch sẽ, gọn gàng. Dịch vụ trông xe, đưa đón cho lịch sự. Trả lại khuôn viên cho đền Trong. Trồng thêm cây cối cho đền. hãy xây nhà vệ sinh cho sạch sẽ. Hãy dẹp nạn ăn xin chèo kéo. Hãy dùng đồng tiền công đức cho có ý nghĩa. Hãy trả lại lễ hội cho dân chúng tổ chức, chính quyền chỉ đứng ra hỗ trợ mà thôi, v.v.
Kỳ vọng thì nhiều lắm.
Nhưng hãy như thế đã. Nếu làm được như thế mới bảo toàn được không gian văn hóa đền Cờn. Và, nếu làm được như thế mới phát triển được du lịch - thứ du lịch văn hóa. Và, nếu có như thế thì hai chữ PHÁT TRIỂN mới đúng nghĩa PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG. Chỉ có như thế, di tích lịch sử đền Cờn mới có chỗ đứng vững trong lòng dân Quỳnh Phương, lòng dân thị xã Hoàng Mai xứ Nghệ An. Xem thế, đủ thấy không gian văn hóa của ngôi đền quan trọng đến mức nào./.
http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/den-con-dieu-da-mat-khi-nhin-thay-dieu-con-lai

Thứ Hai, 29 tháng 2, 2016

Đền thờ Phạm Tu trên đất Diễn Kim (bài Sơn Định)

Sơn Định là con trai của nhà văn Sơn Tùng (xem lại một mẩu cũ ở đây) - người mà mới đây nguyện theo con đường viết của cha.

Một luận giải của Sơn Định về ngôi đền làng (quê hương của nhà văn Sơn Tùng).

Bài lấy về từ VHNA.

---


Đền thờ Phạm Tu trên đất Diễn Kim

  •   
  • SƠN ĐỊNH
  • Thứ hai, 24 Tháng 2 2014 09:59
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
Ở xã Diễn Kim, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đã từng có một ngôi đền thờ danh tướng thời tiền Lý giữ yên bờ cõi phương Nam, giúp Lý Bí lên ngôi, lập nên quốc hiệu Vạn Xuân (544). Một tấm lòng trung quân ái quốc, đó là tướng quân Phạm Tu.

Trước Cách mạng tháng Tám, xã Diễn Kim có ngôi Đền Cả, thường gọi là đền trong (vì nằm sâu trong làng)
Theo nhà văn Sơn Tùng, người đã dành nhiều năm nghiên cứu về nguồn cội đất Diễn Châu, đặc biệt là vùng biển bãi ngang. Ông đã tập hợp các tài liệu thu thập để viết một một cuốn sách có tên “Ông Biển”. Rất tiếc tác phẩm đó chưa kịp hoàn thành thì ông bị ngã bệnh. Nhà văn Sơn Tùng nói về lịch sử Diễn Kim và Đền Cả như sau:
“Từ khởi nguyên Kẻ Lũy tới trang Kim Hoa, rồi làng Hoa Lũy cho đến thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có ba đền nguy nga thờ thần và một đình trung đồ sộ.
Đền Cả “thôn Thượng” gọi nôm là thôn trên, nơi xuất xứ Kẻ Lũy. Đền Cả thờ thần thời Lý Nam Đế (Lý Bôn) quốc hiệu Vạn Xuân. Vào khoảng năm 541- 543, vùng biển Hàm Hoan (Diễn Châu) thường diễn ra nhiều trận đánh ác liệt (trong đó có trang Kim Hoa) giữa quân Lâm Ấp với quân ta, do Phục Man tướng quân Phạm Tu và tả tướng quân Triệu Quang Phục chỉ huy. Dẹp xong giặc Lâm Ấp, về sau làng Đức Thịnh (Diễn Hải) dựng đền thờ Triệu Quang Phục (vua Triệu). Bên làng Hoa có đền Cả. Trước hai ngôi đền là cánh đồng màu rộng lớn gọi là cánh Đồng Ngô, nơi ghi dấu trận đánh ác liệt giữa quân ta với giặc nhà Lương hay còn gọi giặc Ngô bên Tàu. Mạnh Bá đại tướng quân Bùi Văn Thôn người làng Kim bị tử trận tại đây. Do vậy mà trước Cách mạng tháng Tám, theo lệ, hàng năm đến ngày rằm tháng ba âm lịch, họ Bùi khi tế tổ ở nhà thờ lớn, đồng thời cũng bày biện lễ vật gồm: Năm gánh cháo hoa, mỗi gánh là hai nồi mười đầy cháo, một gánh gồm ngô rang và bánh khô và một mâm đầy ngũ quả. Tất cả đồ lễ được đưa vào trước cửa Đền Cả để cúng tế Mạnh Bá đại tướng quân Bùi Văn Thôn. Lễ xong thì múc cháo vung khắp cánh đồng, bánh khô bẻ nhỏ cùng ngô rang rải khắp cánh đồng Ngô ban cho các vong hồn tử sĩ hy sinh vì nước vì dân và cho cả các linh hồn những người lính ngoại bang tử trận tại đây”.
Nhà văn Sơn Tùng cho biết thêm: “Đền Cả thờ Phạm Tu, làng Kim còn có thờ thần vị, thần phả của ngài Triệu Quang Phục và thần vị, thần phả Mạnh bá Đại tướng quân Bùi Văn Thôn”.
Theo Lịch sử Việt Nam, quyển thượng của Đào Duy Anh (1955) cho biết:
Qua năm 543, nước Lâm Ấp thấy Giao Châu vừa có biến bèn cho quân ra đánh phá đất Nhật Nam. Để bảo vệ lãnh thổ mới khôi phục được, Lý Bôn sai tướng là Phạm Tu đem quân vào đánh lui quân Lâm Ấp ở huyện Cửu Đức (Nghệ An)
Năm sau Lý Bôn lên ngôi vua, tự xưng là Lý Nam Đế, đặt quốc hiệu Vạn Xuân và đặt quan chức để xây nền tự chủ. Tinh Thiều làm tể tướng, Triệu Túc là Thái phó, Phạm Tu làm tướng quân ”.
Phạm Tu tướng quân vốn người Quang Liệt, huyện Thanh Đàm nay là xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông sinh năm 476 mất năm 545. Thân sinh ông là Phạm Thiều, thân mẫu là Lý Thị Trạch.
 Do có công lớn được Lý Nam Đế gả công chúa, ban quốc tính họ Lý (Lý Phục Man). Vào năm 545 nhà Lương sai Trần Bá Tiên đem quân sang đánh, quân ta thua trận thủy chiến ở vùng sông Lục Đầu (Hải Dương). Lý Nam Đế phải lui quân về giữ thành ở cửa sông Tô Lịch (Hà Nội). Do thành bằng đất. lũy bằng tre, gỗ nên không giữ được lâu. Tướng quân Phạm Tu lại tuổi cao, sức yếu không cầm cự nổi, đã anh dũng hy sinh ngày 20 tháng 7 âm lịch.
Như vậy ta có thể kết luận: Để ghi nhớ công đức đánh bại quân Lâm Ấp giữ yên bờ cõi phía Nam, người làng Kim xưa đã dựng Đền Cả thờ tướng quân Phạm Tu và tôn ông làm vị thần Bản Thổ linh quan của làng, còn người dân Đức Thịnh dựng đền thờ Triệu Quang Phục
Đền Cả làng Kim không biết được xây cất từ thời gian nào, chỉ biết Thần đền làng Kim có 42 sắc phong, từ thời Lý Thái Tổ đến thời nhà Nguyễn, vua Khải Định. Tuy nhiên, hiện chỉ còn sót lại 21 bản; 3 bản bị rách nát, 18 bản còn nguyên vẹn.
Trong 18 bản sắc phong nói trên, có 8 bản của Đền Cả. Bản xưa nhất là thời Lê Cảnh Hưng thứ 28 (1767) bản gần nhất thời Khải Định cửu niên (1924). Dưới đây là một  bản sắc phong thần Đền Cả:
 “ Sắc Bản thổ vị hiệu Quản Đông- Bắc linh quan, duệ thông hiển ứng thần mô, hùng đoán dực vận tế thế, hộ quốc bảo dân, phong công thịnh đức chiêu liệt, thùy hiếu đôn lương, tuyên từ tề thánh, hoằng mô vĩ lược, trung chính diễn khánh tuy phúc đại thần; thái nhất chung linh, phù dư dậng tú, ngự tai hãn hoạn, hạp cảnh tư mặc, tương chi công tích, cổ thùy hưu lũy, chiêu tịch âm, phù chi lực thịnh lữ. Ký chương đại đức biến vu, cái cử cựu chương, vị
Tự vương tiến phong
Vương vị lâm cư chính phủ tôn phù
Tông xã củng cố hồng đồ, lễ hữu đăng trật, ứng gia phong mỹ tự, nhị tự khả gia phong Bản thổ vị hiệu..tuy phúc 
Diên hưu dụ trạch đại thần.
                                                 Cố sắc
Cảnh Hưng 28 niên 8 nguyệt, 8 nhật (1767)
Lược dịch:
Sắc cho bản thổ linh quan, cai quản vùng Đông bắc, là vị đại thần, thông minh mưu lược, quyết giữ vận mệnh nước nhà, che chở chở cho dân, công nhiều đức lớn, sáng suốt mạnh mẽ, đôn hậu hiền hòa, rộng lòng yêu người, mưu cao tài giỏi, trung thành chính trực, đem lại vui sướng cho dân.
Linh thiêng bậc nhất, có công lớn giúp vua, ngăn tai cản nạn, giữ  yên bờ cõi.
Xét xem công tích, để lại phúc thọ, tăng thêm điều lành, công sức chiêu tạ ân phù nhiều lắm vậy.
Đã rõ đức lớn rộng khắp, vì vậy:
Nhà vua tiến phong cho người đã tôn phù vương vị làm cho xã tắc vững bền rực rỡ, xét trật tự lễ nghi, gia phong:“Bản thổ vị hiệu... tuy phúc” thêm mỹ tự “Diên hựu dụ trạch đại thần”
Vậy, có sắc này.
Ngày mồng 8, tháng 8, năm Cảnh Hưng thứ 28 (1767)
Kiến trúc Đền Cả được xây theo lối Tiền bái hậu cung:
 Hậu cung hay còn gọi nội điện là chỗ thâm nghiêm nơi thờ vị thần, trong cùng là cung cấm an phụng Thần vị. Phía trước an phụng Thần vị có ban thờ sơn son thiếp vàng, trên bàn có hương án và các đồ thờ, hòm đựng sắc vua phong, thần tích của các vị thần, biển ngăn: tĩnh túc và hồi tỵ…
Hai bên ban thờ là Tả Hữu nội gian đặt các hàng tự khí gồm cờ quạt, tàn lọng…ban thờ Thổ Công…
Một nhà Tiền bái hay gọi Tiền tế cũng chia thành ba gian. Gian chính là nơi tế tự... Hai bên có các dãy hương án khác làm nơi đặt đồ lễ của người làng hoặc khách thập phương đến tiến cúng. Trước nhà Tiền bái có treo hoành phi phía trên ban thờ nói về công đức của vị thần.
Trước nhà Tiền bái có sân rộng và hai dãy nhà hẹp lòng như hành lang gọi là Tả mạc, Hữu mạc dùng để quan viên sửa soạn áo mão vào tế lễ và cũng là nơi ngồi chờ khi làng vào đám rước. Trước sân nhà Tiền bái có cổng Tam quan và khoảng sân rất rộng thuận lợi cho dân làng tổ chức tế lễ hàng năm. Xung quanh Đền Cả là những cây trúc ken dày thành lũy và rất nhiều cổ thụ như cây quéo (cây muỗm) cây thị…
 Trước mặt Đền Cả là con sông Bầu Giang (Trái Bầu) rộng lớn được nối thông với kênh Nhà Lê, xưa kia thuyền bè tấp nập vào ra đưa sản vật đi khắp nơi.
Rất tiếc, sau Cách mạng tháng Tám và thời kỳ tiêu thổ kháng chiến, cả ba ngôi đền, một đình trung, một nhà thờ thánh Đức Khổng Phu Tử bị xóa sạch.
Mong rằng một ngày nào đó thôn trên xã Diễn Kim phục dựng lại ngôi Đền Cả, có nơi hương khói phụng thờ tướng quân Phạm Tu - vị Thần Bản Thổ của làng, để cho con cháu đời đời hạnh phúc, ấm no. Và xã Diễn Kim có lẽ là nơi duy nhất ở Nghệ An có đền thờ tướng quân Phạm Tu - Lý Phục Man./.

http://vanhoanghean.com.vn/dat-va-nguoi-xu-nghe6/dat-nuoc-xu-nghe/den-tho-pham-tu-tren-dat-dien-kim