Hiển thị các bài đăng có nhãn thiên-sơn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thiên-sơn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 4, 2016

Cư dân ở tổ dân phố của Nguyễn Cảnh Bình lên tiếng về hội nghị cử tri

Mình để ý một chút tới Nguyễn Cảnh Bình trong "phong trào tự ứng cử quốc hội 2016", rất đơn giản, vì anh là chủ nhân của Alpha Books nơi đã in bộ tiểu thuyết Đại Gia của Thiên Sơn (xem lại, ví dụ ở đây ở đây).

Mình chưa gặp ông chủ của Alpha Books bao giờ.

Lá đơn của cư dân ở tổ dân phố dưới đây là do Nguyễn Cảnh Bình đưa lên Fb của anh. Cả bản cứng, và bản mềm (chế bản điện tử). 

Mình thì hơi thắc mắc ở điểm Nguyễn Cảnh Bình có bản mềm (nếu không phải là anh tự gõ lại từ bản cứng).


Từ đây trở xuống là chép nguyên về từ Fb Nguyễn Cảnh Bình.

---

"





Nguyễn Cảnh Bìnhさんが写真3件を追加しました。

Một hành trình dài với một kết thúc theo cách rất lãng xẹt.
Đây là đơn khiếu nại của các cử tri trong tổ dân phố của tôi. Mọi người đọc thì sẽ biết nội dung và các việc xảy ra trong buổi sáng chủ nhật ngày 10/4/2016 trong buổi lấy phiếu tín nhiệm ở tổ dân phố đối với tôi. Đơn kiến nghị này thay cho thông báo của tôi về kết quả của việc lấy phiếu tín nhiệm.
Rất mong các bạn hiểu và ủng hộ, và chia sẻ giùm thông tin. Hy vọng sẽ có thêm nhiều câu chuyện kể về hành trình này.
Cám ơn các bạn.
Nguyễn Cảnh Bình.
===
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------
Hà Nội, ngày 11 tháng 4 năm 2016

ĐƠN KHIẾU NẠI
(Về kết quả lấy ý kiến cử tri tại nơi cư trú đối với ứng viên Đại biểu Quốc hội khóa 14 và Đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2016 - 2021)

Kính gửi: - ỦY BAN BẦU CỬ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chúng tôi là những cử tri của Tổ dân phố 25 phường Nam Đồng, quận Đống Đa, Hà Nội là những người tham dự hội nghị lấy phiếu tín nhiệm cử tri về người tham gia tự ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa 14 và Đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2016 – 2021 và được tổ chức lấy ý kiến cử tri tại nơi cư trú ngày 10/4/2016 đối với Ông Nguyễn Cảnh Bình, sinh ngày 18/8/1972, cư trú tại Phòng 303 B13 K14 khu tập thể Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội, cơ quan công tác tại Trung tâm hợp tác trí tuệ Việt Nam, địa chỉ tại 176 Thái Hà, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội.
Chúng tôi có ý kiến như sau:
Ngày 10/4/2016 tại trụ sở trường tiểu học Bế Văn Đàn địa chỉ tại số 2 ngõ 14 phố Hồ Đắc Di đã diễn ra hội nghị lấy ý kiến cử tri tại nơi cư trú đối với Ông Nguyễn Cảnh Bình.

Buổi lấy ý kiến cử tri được tổ chức bởi Ủy ban nhân dân phường Nam Đồng phối hợp với Mặt trận tổ quốc phường Nam Đồng. Chủ trì buổi hội nghị gồm ông Nguyễn Đức Thuận là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc phường Nam Đồng và ông Ngô Tiến Ngọc là Chủ tịch UBND phường Nam Đồng, với sự tham dự của đại diện cơ quan là ông Võ Đại Lược, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng giám đốc trung tâm Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương. Theo thông báo của ban tổ chức thì có tổng cộng 59 cử tri tham dự buổi lấy ý kiến.
Diễn biến buổi lấy ý kiến cử tri sau phần phát biểu của Ban tổ chức có 4 ý kiến phát biểu của cử tri cả 4 ý kiến đều có nhận xét tốt về nhân thân, đánh giá cao quá trình công tác và tư cách ứng viên của ông Nguyễn Cảnh Bình và không có ý kiến nào phê phán phản đối. Hội nghị diễn ra thân thiện cởi mở và không khí chung là ủng hộ ông Nguyễn Cảnh Bình.

Nhưng khi đến lúc ban tổ chức công bố kết quả kiểm phiếu qua hình thức bỏ phiếu kín thì chỉ kết quả chỉ có 26/59 phiếu tín nhiệm ông Bình ứng cử Quốc hội và 16/59 phiếu tín nhiệm ông Bình ứng cử HDND Thành phố. Và không quá bán số phiếu ủng hộ trên tổng số phiếu.
Kết quả đó khiến chúng tôi rất bất ngờ và không hiểu sao kết quả kiểm phiếu lại phản ánh trái ngược diễn biến hội nghị như vậy, nên đã có 8 cử tri gồm Bà Nguyễn Thanh Mai; Ông Trần Quốc Phóng; Ông Nguyễn Văn Quế; Ông Vũ Anh Tuấn; Ông Nguyễn Trần Thịnh; Bà Đặng Thị Mai Liên; Ông Dương Vân Thái; Bà Hồ Thị Diệp đã kịp phát biểu bày tỏ ý kiến không đồng tình với kết quả kiểm phiếu và đề nghị bỏ phiếu lại. Trong khi đó, 5 năm trước, trong dịp bầu cử Quốc hội khóa 13, khi lấy phiếu tín nhiệm cử tri ở tổ dân phố, ông Bình đã đạt 46/69 phiếu, đạt tỷ lệ 67%.
Song vì lý do nào đó Ban tổ chức đã không chấp nhận ý kiến hợp lý chính đáng của các cử tri là cho bỏ phiếu lại. Các ý kiến thắc mắc phản đối kéo dài cả tiếng đồng hồ trong khi ông Ngô Tiến Ngọc là Chủ tịch UBND phường Nam Đồng gắng ép mọi người thông qua biên bản hội nghị. Song khi Ban tổ chức lập biên bản kết thúc hội nghị thì chỉ có 18 người đồng ý với nội dung biên bản. Việc Ban tổ chức từ chối tiến hành bỏ phiếu lại trong khi nhiều cử tri đề nghị đã làm giảm sút niềm tin của cử tri vào công tác tổ chức bầu cử của Ban tổ chức.
Kính thưa các Quý cơ quan!
Ông Nguyễn Cảnh Bình là một trí thức, một học giả nghiên cứu sâu và chuyên về xuất bản sách, ông hiện là Giám đốc Trung tâm hợp tác trí tuệ Việt Nam. Ông Bình tham gia tự ứng cử Đại biểu Quốc hội là nhằm mong muốn đóng góp kiến thức hiểu biết trí tuệ của mình cho hoạt động xây dựng chính sách pháp luật của nhà nước, góp phần cho sự tiến bộ phát triển chung của xã hội.

Là người xuất thân trong gia đình có truyền thống cách mạng, sống và làm việc lâu năm ở địa phương, quá trình học tập và công tác mọi người đều biết, cho nên các cử tri thấy ông Bình xứng đáng là ứng viên Đại biểu Quốc hội. Chúng tôi bằng sự công tâm khách quan của mình, muốn bày tỏ ý kiến trung thực xác đáng, để nhận định đánh giá về con người của ông Bình, giúp các cơ quan tổ chức cuộc bầu cử tìm ra được đúng người xứng đáng, góp phần vào thành công thắng lợi chung của cuộc bầu cử Quốc hội khóa 14.
Tuy vậy qua diễn biến kết quả của Hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi cư trú ngày 10/4/2016 đối với ông Bình, chúng tôi nghi ngờ kết quả kiểm phiếu có sai sót, vì đã phản ánh hoàn toàn trái ngược với không khí thân thiện ủng hộ ông Bình tại hội nghị.
Chúng tôi cũng thấy công tác tổ chức buổi lấy ý kiến cử tri là không đúng trình tự theo văn bản hướng dẫn số 11/HD-MTTQ-BTT ký ngày 07 tháng 03 năm 2016 của Ủy Ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội về việc Hướng dẫn Tổ chức Hội nghị lấy ý kiến nhận xét của cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIV, đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 ở mục 4 về Nội dung, thủ tục, trình tự: Ông Bình đã không được phát biểu trình bày giải đáp thắc mắc của cử tri, và đại diện cơ quan nơi làm việc cũng không được phát biểu ý kiến nhận xét về ông Bình trước khi tiến hành bỏ phiếu. Việc này đương nhiên sẽ ảnh hưởng đến việc nắm bắt thông tin đầy đủ từ đó đưa ra nhận định đánh giá chính xác công tâm về ứng viên Đại biểu Quốc hội, làm giảm sút chất lượng của công tác bầu cử.
Đề nghị:
Nay chúng tôi đề nghị Ủy ban bầu cử Thành phố Hà Nội giải quyết khiếu nại này của chúng tôi theo như quy định của Luật bầu cử Đai biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp năm 2015 và xem xét việc tổ chức lại việc lấy ý kiến cử tri để đảm bảo khách quan, công bằng. Đề nghị giải đáp, giải thích, làm rõ và minh bạch về số phiếu và kết quả kiểm phiếu của Hội nghị lấy ý kiến cử tri đối với ông Nguyễn Cảnh Bình.

Kính mong được quan tâm giải quyết.
Xin trân trọng cảm ơn!
Những người làm đơn và tham gia buổi lấy ý kiến cử tri

(Tổng cộng có 36 người ký vào đơn khiếu nại, dù có thể thêm chữ ký song do thời gian không cho phép có thêm các chữ ký ủng hộ)
Nơi gửi:
- Như trên;
- Hội đồng bầu cử Quốc gia;
- Bí thư phường Nam Đồng;
- Chủ tịch UBND phường Nam Đồng;
- Chủ tịch Mặt trận tổ quốc phường Nam Đồng;
- Các cơ quan báo chí nhà nước;


"

---

Bổ sung

http://thanhnien.vn/thoi-su/cu-tri-khieu-nai-ve-viec-lay-y-kien-voi-ung-vien-dbqh-tu-ung-cu-691262.html
Cử tri phường Nam Đồng (Đống Đa, Hà Nội) vừa có đơn khiếu nại đề nghị làm rõ kết quả kiểm phiếu tại Hội nghị lấy ý kiến đối với ông Nguyễn Cảnh Bình.
 
don-khieu-nai
Nội dung đơn khiếu nại của cử tri Tổ dân phố 25 phường Nam Đồng (Đống Đa, Hà Nội)
Ngày 11.4, cử tri Tổ dân phố 25 phường Nam Đồng (Đống Đa, Hà Nội) đã có đơn khiếu nại gửi Hội đồng bầu cử Quốc gia và một số cơ quan liên quan đề nghị làm rõ và minh bạch về số phiếu và kết quả kiểm phiếu của Hội nghị lấy ý kiến cử tri đối với ông Nguyễn Cảnh Bình, Giám đốc Trung tâm hợp tác trí tuệ Việt Nam - một trong số những người tự ứng cử vào Quốc hội khóa 14 tại Hà Nội.
Tại đơn khiếu nại với 36 chữ ký, cử tri tổ dân phố 25 cho rằng, kết quả kiểm phiếu tại Hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi cư trú ngày 10.4.2016 đối với ông Nguyễn Cảnh Bình có sai sót vì đã phản ánh hoàn toàn trái ngược với không khí thân thiện ủng hộ ông Bình tại hội nghị.
Theo đơn khiếu nại, tại hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi cư trú đối với ông Nguyễn Cảnh Bình do UBND, Mặt trận Tổ quốc phường Nam Đồng tổ chức, các ý kiến phát biểu đều có nhận xét tốt về nhân thân, đánh giá cao quá trình công tác và tư cách ứng viên của ông Nguyễn Cảnh Bình và không có ý kiến nào phê phán phản đối. Hội nghị diễn ra thân thiện cởi mở và không khí chung là ủng hộ ông Nguyễn Cảnh Bình. Tuy nhiên, kết quả kiểm phiếu qua hình thức bỏ phiếu kín thì chỉ có 26/59 phiếu tín nhiệm ông Bình ứng cử Quốc hội và 16/59 phiếu tín nhiệm ông Bình ứng cử HĐND TP.Hà Nội.
don-khieu-nai
Nội dung đơn khiếu nại của cử tri Tổ dân phố 25 phường Nam Đồng (Đống Đa, Hà Nội)
Do kết quả phản ánh trái ngược diễn biến hội nghị nên đã có 8 cử tri phát biểu bày tỏ ý kiến không đồng tình với kết quả kiểm phiếu và đề nghị bỏ phiếu lại. Tuy nhiên,  Ban tổ chức đã không chấp nhận việc này. Biên bản kết thúc hội nghị chỉ có 18/59 người đồng ý với nội dung biên bản. Theo cử tri tổ dân phố 25, việc Ban tổ chức từ chối tiến hành bỏ phiếu lại trong khi nhiều cử tri đề nghị đã làm giảm sút niềm tin của cử tri vào công tác tổ chức bầu cử của Ban tổ chức.
don-khieu-nai
Nội dung đơn khiếu nại của cử tri Tổ dân phố 25 phường Nam Đồng (Đống Đa, Hà Nội)
Đơn khiếu nại cho rằng công tác tổ chức buổi lấy ý kiến cử tri là không đúng trình tự theo văn bản hướng dẫn số 11/HD-MTTQ-BTT ký ngày 7.3.2016 của Ủy Ban MTTQVN TP. Hà Nội về việc Hướng dẫn Tổ chức Hội nghị lấy ý kiến nhận xét của cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử ĐBQH khóa 14, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 ở mục 4 về Nội dung, thủ tục, trình tự.
Trả lời Thanh Niên qua điện thoại tối 12.4, ông Ngô Tiến Ngọc, Chủ tịch UBND phường Nam Đồng (Đống Đa, Hà Nội) xác nhận đã nhận được đơn khiếu nại của cử tri Tổ dân phố 25 phường Nam Đồng vào chiều 12.4. Ông Ngọc cho biết sẽ báo cáo lại việc này với Hội đồng bầu cử của phường vào ngày 13.4 để có hướng giải quyết.
Trường Sơn
http://thanhnien.vn/thoi-su/cu-tri-khieu-nai-ve-viec-lay-y-kien-voi-ung-vien-dbqh-tu-ung-cu-691262.html

Thứ Ba, 22 tháng 3, 2016

Tới thăm quê nhà của danh tăng Thích Thanh Hanh (tổ Vĩnh Nghiêm)

Đến quê ngài là hoàn toàn nhân duyên.

Ngài vốn là pháp chủ của Giáo hội Phật giáo Bắc Kì, trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang).

Khi soạn hồ sơ mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm (hiện đã được công nhận là di sản kí ức khu vực châu Á - Thái Bình Dương), đoạn về sư Thích Thanh Hanh, tôi chủ yếu căn cứ theo tư liệu cũ của phía Bắc Giang, cộng với một số tìm tòi trước của mình trong liên hệ với Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha. 

Tạm xem nhanh về chùa Vĩnh Nghiêm và mộc bản Vĩnh Nghiêm, bài của tôi, ở đây (năm 2013).

Hôm nay, trên đường du lãng, tới nơi mới biết đó chính là quê hương của ngài. Một sự tình cờ. Mà ngồi ngẫm, thì chính thực là một mối nhân duyên.

Một ngày Hà Nội ẩm ướt, nhớp nháp, vô cùng khó chịu. Liếc đồng hồ đo độ ẩm, thấy tới gần 100%. 

Lúc trở ra về, trời như mù sương giăng giăng cản lối đi. 

Dưới là một mẩu giới thiệu gắn về sư Thích Thanh Hanh của phía Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

---



Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Phật Lịch 2539 – 1995
TIỂU SỬ DANH TĂNG VIỆT NAM THẾ KỶ XX - TẬP I
Thích Đồng Bổn Chủ biên
Th� nh Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh ấn h� nh 
TỔ VĨNH NGHIÊMHÒA THƯỢNG-THÍCH THANH HANH(1840 - 1936)

Hòa thượng thế danh là Nguyễn Thanh Đàm(1) pháp hiệu là Thanh Hanh, sinh năm 1840 tại làng Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) trong một gia đình thi lễ. Năm lên bảy tuổi, Ngài được gia đình theo cho học chữ Nho. Nhờ có sẵn thiên tư, lại được cha rèn thầy dạy, nên việc học của Ngài tiến bộ nhanh chóng. Tuy nhiên, Ngài lại không thích đời trần tục mà lại có ý muốn xuất gia.

Mặc dầu được cha mẹ thương yêu, nặng tình cốt nhục cố ngăn cản, Ngài vẫn một lòng xin song thân cho phép đi tìm cuộc sống thanh thoát nơi thiền gia. Cuối cùng Ngài được toại nguyện. Lên mười tuổi (1850), Ngài đến làm lễ xuất gia với vị Hòa thượng họ Nguyễn ở chùa Hòe Nhai - Hà Nội.

Năm lên 18 tuổi (1858), Ngài được về chùa Vĩnh Nghiêm, tỉnh Bắc Giang, tiếp tục tu học dưới sự chỉ dẫn của Hòa Thượng Tâm Viên.

Năm 20 tuổi (1860), Ngài thọ Cụ Túc giới tại Đại giới đàn chùa Vĩnh Nghiêm. Sau đó Ngài vẫn tiếp tục ở lại chùa tu hành nghiên cứu giáo lý. Ngài tu học rất tinh tấn và trở thành một nhân vật rường cột của Tổ đình này.

Năm 30 tuổi (1870), nghĩa lý đã làu, đạo thiền đã thấu, Ngài được nghiệp sư cử vào tỉnh Ninh Bình giảng dạy Phật pháp cho Tăng Ni, khi ở chùa Phượng Ban, lúc tới chùa Hoàng Kim, lại về chùa Phúc Tỉnh v.v... Đến chỗ nào, Ngài cũng chỉ thiết tha một niềm: lấy việc hoằng dương Chánh pháp, giáo hóa Tăng Ni làm phận sự. Ngài luôn tâm niệm làm mọi việc lợi lạc cho tín đồ là sứ mệnh của người xuất gia. Ròng rã ba mươi năm Ngài làm Pháp sư, đem đạo dạy đời. Trong thì Tăng Ni, ngoài thì thập phương thiện tín, ai cũng được thấm nhuần mưa pháp. Nhờ vậy mà đệ tử của Ngài nhiều người thành bậc đạo hạnh thuần nhã, tín căn kiên cố.

Năm Canh Tý (1900), Ngài 60 tuổi, sư huynh của Ngài là Hòa thượng Thanh Tuyền viên tịch. Ngài trở về Tổ đình Vĩnh Nghiêm và được sơn môn suy cử vào ngôi kế đăng. Từ đó Tăng chúng và tín đồ thường gọi Ngài là Tổ Vĩnh Nghiêm.

Trong cương vị đứng đầu một ngôi Tổ đình lớn vào bậc nhất miền Bắc, công việc điều hành đa đoan, Ngài vẫn không sao nhãng việc hoằng dương Chánh pháp, đào tạo Tăng tài, bồi dưỡng lớp kế thừa. Ngài thường xuyên lui tới trường Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội, tìm tòi tam tạng kinh điển đại thừa, rồi xin phép ban Giám đốc cho đồ chúng đem bút giấy vào sao chép về cho khắc ván ấn hành nhiều bản. Bước đi tiên phong của Ngài đã gây nên phong trào các sơn môn lớn trên đất Bắc đua nhau sao chép và in ấn kinh sách, giúp Tăng Ni và cư sĩ có tài liệu tham cứu. Nhờ đó mà các thiền môn có được những bộ kinh quý hiếm như kinh Hoa Nghiêm Sớ Tấu, kinh Đại Bát Nhã, kinh Đại Bảo Tích, kinh Duy Ma Cật, kinh Trường A Hàm, luật Tứ Phần Tu Trì, luật Trừng Trị Tục Khắc và các bộ luận về môn Duy Thức với bộ Phụ Giáo Biên v.v... Các bộ kinh, luật, luận ấy được khắc ván và in, đều có mang lời tựa và lời bạt của Ngài. Ngày nay chúng ta đọc lại những bài ấy sẽ thấy sức học của Ngài rất uyên thâm, sự hiểu biết sâu sắc, lòng vị chúng của Ngài rất thống thiết.

Ngài luôn quan tâm đến việc chấn hưng Phật giáo, quy tụ các sơn môn về một mối. Hoạt động của Ngài và Tăng hữu cho mục đích cao cả đó đã vang dội tận miền Nam, nên năm 1929, Hòa thượng Khánh Hòa đã cử Thiền sư Thiện Chiếu ra Bắc gặp các sơn môn để bàn việc thành lập Việt Nam Phật Giáo Tổng Hội. Nhưng vì cơ duyên chưa thuận, việc không thành. Sau đó miền Nam, rồi miền Trung lần lượt thành lập các hội Phật giáo. Miền Bắc đến ngày 05-12-1934, Bắc Kỳ Phật Giáo Hội mới chính thức được thành lập. Hội đã thỉnh cầu Ngài làm Thiền gia Pháp chủ. Tuy tuổi Ngài lúc đó đã 94, sức khỏe đã giảm sút nhiều, nhưng vì ước nguyện mấy chục năm nay của Ngài đã thành sự thật, nên Ngài vẫn vui vẻ nhận lãnh nhiệm vụ nặng nề ấy. Trong lễ suy tôn, tổ chức rất long trọng tại chùa Quán Sứ ngày 23-12-1934, Ngài đã kêu gọi Tăng sĩ theo nguyên tắc lục hòa của Phật dạy mà bỏ hết dị biệt của tông nọ phái kia để dốc lòng chấn hưng Phật giáo.

Tuy vậy, sự bất đồng ý kiến của một số sơn môn với Bắc Kỳ Phật Giáo Hội vẫn xuất hiện. Đó là việc hai chùa Linh Quang (Bà Đá) và Hồng Phúc cho phát hành tờ Tiếng Chuông Sớm vào giữa năm 1935, lúc đó tờ Đuốc Tuệ, cơ quan ngôn luận của hội Bắc Kỳ Phật Giáo chưa xuất hiện. Sự bất đồng ý kiến kéo dài từ giữa cho đến cuối năm 1935, nặng nề nhất là việc hai Tổ đình Linh Quang và Hồng Phúc phối hợp với các chùa chi nhánh tại Hà Nội và các tỉnh để tổ chức Bắc Kỳ Phật Giáo Cổ Sơn Môn. Trước tình trạng đó Hòa thượng Thanh Hanh đã tìm mọi cách hòa giải, Ngài thường xuyên lui tới các Tổ đình trên để đả thông và thuyết phục. Nhờ vậy mà sự bất đồng ý kiến trước đó dần dần nhường chỗ cho sự cộng tác. Đầu tháng chạp năm 1935, tờ Đuốc Tuệ ra mắt độc giả. Báo Tiếng Chuông Sớm liền viết bài chào mừng và đăng những bài có tinh thần hòa giải và cởi mở.

Sau bao năm tận tụy phục vụ Đạo pháp, đào tạo Tăng tài, góp sức cho phong trào chấn hưng Phật giáo, hòa giải những ý kiến dị biệt, đưa các sơn môn miền Bắc về chung một mái nhà Phật giáo, công đức của Ngài vô cùng to lớn. Đã đến lúc Ngài có thể trút bỏ thân tứ đại để trở về cõi Tây phương Cực Lạc, nên ngày mồng 8 tháng 12 năm Bính Tý (1936), Ngài đã viên tịch tại chùa Vĩnh Nghiêm, hưởng thọ 96 tuổi đời, 86 tuổi đạo.

Ý nguyện hòa hợp Tăng già, thạnh hưng Phật đạo để làm mẫu mực cho đời và hy vọng giải thoát chúng sanh của Ngài còn mãi.
Chú thích : 1) Theo Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập III, Hòa thượng Thanh Hanh tên tục là Nguyễn Thanh Đàm (trang 149). Nhưng theo tài liệu viết về Tổ Thuyền Gia Pháp Chủ (Do Đại Đức Gia Quang ở Phân viện Nghiên Cứu Phật học Hà Nội cung cấp) thì lại thuộc dòng họ Bùi.


http://cusi.free.fr/lsp/danhtvn/danhtang1-giaidoan2-09.htm




Dòng Phật giáo Vĩnh Nghiêm


Sự tích của Vĩnh Nghiêm Tự này, căn cứ theo "Bắc Giang Địa Chí" của ông Trịnh Như Tấn, hiệu Nhật Nham (Tín Đức Thư Xã xuất bản) tháng 7 năm 1937 viết: Theo tục truyền trong dân gian địa phương thì chùa Vĩnh Nghiêm được xây dựng lên từ thời Lý Thái Tổ ( 1010-1028).
image
Nơi phát tích dòng Phật Giáo Vĩnh Nghiêm
Một trong những nghiên cứu về dòng Phật Giáo Vĩnh Nghiêm là giáo sư Nguyễn Đăng Thục (Thiền học Việt Nam) cho rằng: “Dòng Phật Giáo Vĩnh Nghiêm nguyên lai phát tích bắt đầu ở chùa Ðức La, thuộc xã Ðức La, tổng Trí Yên, Phủ Lang Giang nay là Bắc Giang (Bắc Việt). Tên chữ của chùa là Vĩnh Nghiêm Tự”. Phan Phong Linh khi viết về Vĩnh Nghiêm Tự (Bán Nguyệt san Văn Đàn - số 37, ngày 12-4-1956) cho rằng: Ngôi bảo tự này không những là một nơi danh lam thắng cảnh của tỉnh Bắc Giang mà chính là một cổ tích đệ nhất của địa hạt.
Sự tích của Vĩnh Nghiêm Tự này, căn cứ theo "Bắc Giang Địa Chí" của ông Trịnh Như Tấn, hiệu Nhật Nham (Tín Đức Thư Xã xuất bản) tháng 7 năm 1937 viết: Theo tục truyền trong dân gian địa phương thì chùa Vĩnh Nghiêm được xây dựng lên từ thời Lý Thái Tổ ( 1010-1028). Chùa xây trên bờ sông Thương, cách tỉnh lỵ 18 cây số. Căn cứ vào bia ký thì chùa này nổi tiếng kể từ đời nhà Trần, từ vua Trần Thánh Tông (1258-1278) trở đi, thời nào cũng có vị Cao Tăng Thiền Sư đến trụ trì, mỗi ngày một tu bổ thêm phần tráng lệ. Ðặc sắc nhất là vào thời nhà Trần, chùa này đã đại diện cho dòng Thiền đặc biệt Việt Nam, ấy là dòng Trúc Lâm Tam Tổ: Trần Nhân Tông (1279-1293) là Đệ nhất tổ, Kiên Cương Pháp Loa là Đệ nhị tổ, và Huyền Quang là Đệ tam tổ. Cả ba vị Tổ hiện nay (1937) đều có tượng thờ ở tại chùa Ðức La (Trịnh Như Tấn).
Dòng Phật Giáo Vĩnh Nghiêm đời Trần
Tháng sáu năm 1293, vua Trần Nhân Tông sau khi thoái vị nhường cho con là Anh Tông , xuất gia tu hành ở hai chùa Vĩnh Nghiêm và Yên Tử, hạnh đầu đà quyên cơm áo của chúng sinh, lấy hiệu là Hương Văn Ðại Ðầu Ðà hàng năm kiết hạ ở chùa này. Trong dịp nhàn du cầu đạo, Ngài đi tới Nam Sách gặp con của Thuần Mậu Công, tục gọi là Kiên Cương, là người thông minh có căn duyên bèn cho thế phát thụ tam thừa giới phẩm và truyền đạo cho, đặt cho tên hiệu là Pháp Loa, cho đi khắp nơi thuyết pháp giảng bộ "Truyền Ðăng Lục".
Năm Kỷ Hợi (1299) Vua vào tu ở núi Yên Tử, lập trường giảng pháp độ tăng chùa Ngọc Vân, môn độ lần lượt tìm đến kể hàng vạn, ngài còn đi khắp nơi sức cho nhân gian hủy bỏ các dâm từ, khuyên làm điều thiện. Ði theo ngài thường có độ mươi người đệ tử thân tín trong số có Pháp Loa Thiền Sư. Nhà sư thấy nhà vua nhiệt thành với Phật Pháp, chịu đi đây đi đó, lặn lội trong quần chúng để tế độ, nhiều lần có bạch: "Tôn Ðức bây giờ tuổi đã cao mà cứ xông pha mưa gió vất vả cực khổ như vậy, lỡ khi nóng lạnh bất kỳ thì mạng Phật Pháp trông cậy vào đâu?"
Ngài liền dạy: "Thời tiết sắp đến rồi, ta chỉ còn đợi ngày giải thoát thôi".
Mười hôm sau, bà chị gái Ngài là Thiên Thụy Công chúa đau nặng cho mời Ngài. Ngài đi đến thăm và nói: "Nếu chị về cõi âm thì xin hãy đợi em!". Rồi Ngài trở về ngọn Tử Tiêu Phong trên núi Yên Tử. Về núi Ngài dặn lại Pháp Loa mọi sự rồi ngồi yên lặng mà hóa. Quả nhiên Ngài mất cùng ngày với bà Thiên Thụy. Khi Ngài sắp tịch ở Am Ngọc Vân, Ngài gọi Pháp Loa bảo: "Ta sắp đi đây!"
Sau khi Ngài Hương Văn viên tịch rồi, Pháp Loa làm lễ hỏa đàn, vua Anh Tôn cùng đình thần đem linh cốt về an thờ ở Ðức Lăng, và xây tháp ở chùa Vân Yên, núi Yên Tử, lấy tên là Huệ Quang Kim Tháp, và dâng tôn hiệu là "Ðại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Ðầu Ðà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Ðiều Ngự Tổ Phật".
Thích Mật Thể sau khi nói Tự tích Trần Nhân Tông có kết luận rằng: "Xuất Thiền Tông ở ta - nói ở Bắc thì đúng hơn - còn lưu truyền đến ngày nay là nhờ phái Yên Tử. Phái Yên Tử được phát đạt là do Trúc Lâm Tam Tổ đứng đầu, mà Trần Nhân Tông là đệ nhất Tổ vậy. Ngài tịch vào năm Long Hưng thứ 16 (1308) thọ 51 tuổi." (Việt Nam Phật Giáo Sử Lược)
Sau khi Tổ Hương Vân viên tịch, Tổ Pháp Loa phụng chiếu về chùa Vĩnh Nghiêm (Ðức La) thuyết pháp, xếp đặt tăng chức và trông nom hơn một trăm ngôi chùa rải rác khắp trong nước. Muốn nghiên cứu tường tận về Thiền Học của phái Trúc Lâm Việt Nam này, chúng ta phải dành riêng một chỗ khác, nay hãy theo dõi sự tích chùa Vĩnh Nghiêm. Khoảng năm Canh Ngọ (1330), niên hiệu Khai Hựu (1329-1341), Tổ Pháp Loa truyền đạo cho Huyền Quang, rồi về chùa Quỳnh Lâm thuyết pháp. Mồng 3 tháng 3 năm ấy, Tổ Pháp Loa viên tịch, được phong hiệu là "Tĩnh Chí Tôn Giả". Tháp đề là Viên Thông. Tổ Pháp Loa là đệ nhị Tổ, còn tượng ở chùa Vĩnh Nghiêm (1937) (Ðức La). Ngài có độ hơn 15.000 đệ tử Tăng Ni trong số ấy đắc pháp được đến 3000. Ngài có soạn ra sách "Ðoạn Sách Lục" và "Tham Thiền Yếu Chỉ".
Tổ Huyền Quang, Ngài thuộc làng Vạn Tải thuộc bộ Vũ Ninh, tỉnh Bắc Ninh bây giờ. Thủy Tổ là Lý Ôn Hòa làm quan triều Lý Thần Tông, được sáu đời giúp nhà Lý. Ðến Ngài và cha thì làm quan với nhà Trần. Năm Ngài mới chín tuổi đã thông minh dĩnh ngộ lạ thường. Năm 21 tuổi, Ðại Tỉ Khoa trúng Trạng Nguyên, được phụng tiếp sứ Tầu.
Một lần Ngài hộ giá đến chùa Vĩnh Nghiêm (Ðức La) gặp Tổ Pháp Loa giảng đạo, bất giác Ngài tỉnh ngộ. Khi về triều hai lần dâng biểu từ quan để xuất gia, rồi đến chùa Vĩnh Nghiêm thụ giới. Tổ Pháp Loa đặt pháp hiệu là Huyền Quang. Ngài thường cùng với Ðiều Ngự Giác Hoàng (Vua Nhân Tông) đệ nhất Tổ, Ngài Pháp Loa đệ nhị Tổ đi chu du và thuyết pháp khắp trong nước. Sau khi Ngài tịch, vua ban hiệu là "Trúc Lâm Ðệ Tam Ðại Tự Pháp Huyền Quang Tôn Giả". Hiện nay còn tượng ở chùa Vĩnh Nghiêm (Ðức La).
Như thế cả ba Tổ dòng Trúc Lâm đều đã lấy chùa Vĩnh Nghiêm làm trung tâm giảng đạo Thiền. Và đạo Thiền dòng Trúc Lâm Tam Tổ là một nền thiền học dân tộc vậy.
Dòng Phật Giáo Vĩnh Nghiêm thời Hậu Lê - Nguyễn
Ðến đời Hậu Lê, khoảng niên hiệu Diên Ninh (1454-1459) có nội thị Tinh Thủ tăng tự là Chí Tín Thượng Sĩ trùng tu Phật Tự. Ðến đời Lê Thế Tông, niên hiệu Quang Hưng (1578-1599) có hai vị cư sĩ là Nguyễn Tự Nhiên và Nguyễn Phúc Mạch cùng trùng tu. Người đứng hưng công Thái Bảo Ðà Quốc Công và Công Chúa Trưởng Phúc Thành. Chùa Vĩnh Nghiêm mới lại thêm tráng lệ. Niên hiệu Cảnh Hưng thứ 10, triều Lê Hiển Tông, trong nước loạn ly chùa Vĩnh Nghiêm xiêu đổ, sau có Ni Sư Vũ Thị Lượng hiệu là Diệu Minh mới trùng tu lại Phật Tự. Mãi đến cận kim thời đại, năm Minh Mạng thứ 11 (1831) Hòa Thượng Lâm Tế Chính Tông trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm này, được vua tặng phong "Giới Ðạo Ðộ Ðiệp Lâm Tế Chính Tông Kim Mã Hòa Thượng". Năm Tự Ðức thứ hai (1849) vị Tổ chùa Phù Lãng Trung đến trụ trì, sau kế tiếp vị Hòa Thượng Tịnh Phương Sa Môn Pháp Huy tự Tâm Viên mở trường thuyết pháp.
Ðến mùa xuân năm Thành Thái thứ nhất (1889 Hòa Thượng Tâm Viên ngọa bệnh, cử đệ tử Thanh Tuyền làm Chính Giám, và Thanh Hanh làm Phó Giám. Ngài Tâm Viên tịch vào 15 tháng 7 năm 1889. Mãi đến năm 1907 Sư cụ Thanh Hanh mới đến ở hẳn chùa Vĩnh Nghiêm (Ðức La), tu sửa trong chùa, thuê thợ khắc mộc bản Kinh Hoa Nghiêm. Cụ là một vị cao tăng Ðại Ðức, nên có rất nhiều đồ đệ. Năm 1935 Hội Bắc Kỳ Phật Giáo thành lập với mục đích chấn hưng Phật Giáo toàn quốc. Hội suy tôn cụ làm Thiền Gia Pháp Chủ. Mùa đông năm 1936 cụ viên tịch ở chùa Vĩnh Nghiêm, có các thân hào Pháp Nam và mấy vạn tín đồ đến dự tang lễ.
Ðấy là đại lược sự tích chùa Vĩnh Nghiêm, không những theo sát với ngàn năm độc lập của dân tộc, mà còn đại diện cho cả một dòng Phật Giáo có sắc thái đặc biệt dân tộc, phản chiếu các ý thức hệ dân tộc thời Lý Trần là thời oanh liệt nhất lịch sử nước nhà. Ngày nay hai chữ Vĩnh Nghiêm đã từ Việt Bắc di vào Sài Thành mang danh hiệu là miền Vĩnh Nghiêm. Mong rằng miền Vĩnh Ngiêm này không chỉ là một nơi thờ tự, mà sẽ còn là một trung tâm Phật Học dân tộc để cho bó đuốc Trúc Lâm Tam Tổ lại một phen sáng chói với tinh thần "Phật Vô Nam Bắc" của bó đuốc Thiền Học Việt Nam.
Tổ Vĩnh Nghiêm (Hòa thượng Thích Thanh Hanh, 1840-1936)
Tài liệu của học giả Trần Văn Giáp (Tri Tân tạp chí 3-1944) có ghi: Tổ Vĩnh Nghiêm thế danh là Nguyễn Thanh Ðàm, pháp hiệu Thanh Hanh, sinh năm 1840 tại làng Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Ðông trong một gia đình lễ giáo. Năm 7 tuổi (1847), Tổ đã được học chữ nho. Vốn thiên tư đĩnh ngộ, tính hạnh chuyên cần nên việc học hành tiến triển nhanh chóng. Nhưng Tổ cảm thấy không thích sống cuộc đời trần tục, mà luôn luôn có hướng muốn xuất gia độ thế. Sau nhiều lần xin phép song thân cho đi tìm cuộc sống thanh thoát nơi cửa thiền, cuối cùng, Tổ đã được toại nguyện.

Năm 10 tuổi (1850), Tổ làm lễ xuất gia với Hòa thượng họ Nguyễn chùa Hòe Nhai (Hòa Giai) Hà Nội. Năm 18 tuổi (1858), Tổ về chùa Vĩnh Nghiêm tỉnh Bắc Giang tiếp tục tu học dưới sự chỉ dạy của Hòa Thượng Tâm Viên. Năm 20 tuổi (1860), Tổ thọ Cụ túc giới Ðại giới đàn chùa Vĩnh Nghiêm, rồi tiếp tục lưu lại tu tập, nghiên cứu giáo lý. Tổ trở thành nhân vật rường cột của sơn môn. Năm 30 tuổi (1970), giáo pháp đã thông, thiền đạo đã thấu, Tổ được Nghiệp sư cử vào Ninh Bình giảng dạy Phật Pháp cho chư tăng ni. Ròng rã ba mươi năm, khi ở chùa Phượng Ban, lúc qua chùa Phúc Tỉnh hay về chùa Hoàng Kim... ở đâu, lúc nào, Tổ luôn tâm niệm:

Hoằng dương chính pháp bằng giáo hóa tăng ni và làm lợi lạc cho quần sinh là phận sự, sứ mệnh của người xuất gia. Nhờ vậy, nhiều đệ tử tăng, tục của Tổ trở thành những bậc đạo hạnh, tín căn kiên cố.

Phật sự của Tổ ngày càng nhiều hơn. Năm 60 tuổi (1900), Hòa thượng Thanh Tuyền (sư huynh của Tổ) viên tịch. Khi trở về tổ đình thọ tang, Tổ được sơn môn bầu vào ngôi vị Kế Ðăng. Từ đó, mọi người thường gọi là Tổ Vĩnh Nghiêm. Ở ngôi vị Trưởng Thủ Tổ Ðình, một sơn môn lớn vào bậc nhất miền Bắc, dù công việc điều hành đa đoan, Tổ vẫn luôn vân du hoằng dương chính pháp, lưu tâm đến việc đào tạo tăng tài, bồi dưỡng lớp kế thừa. Nhờ vậy, Phật Giáo miền Bắc thời đó tiến triển hơn nhiều.

Tổ thường xuyên tới Trường Viễn Ðông Bác Cổ (E.F.E.O) ở Hà Nội, tìm tòi Tam Tạng Kinh Ðiển Ðại Thừa, xin phép sao chép về khắc ván ấn hành phổ biến. Bước đi tiên phong của Tổ đã gây được phong trào các sơn môn lớn miền Bắc sao chép và phổ biến kinh sách, giúp các tăng ni, cư sĩ tại gia có tài liệu tham cứu. Ngoài ra còn liên hệ với Hội Nghiên Cứu Đông Dương (Société Des Etudes Indochinoises) để tìm kiếm những kinh điển Phật Giáo khác. Các bộ Kinh quý hiếm như: Hoa Nghiêm Sớ Tấu, Ðại Bát nhã, Ðại Bảo Tích, Duy Ma Cật, Trường A Hàm, cùng các bộ Luật: Tứ Phần Tu Trì, Trùng Trị Tục Khắc, các Luận về môn Duy thức với bộ: Phụ Giáo Biên... đều được khắc ván ấn hành với lời Tựa và lời Bạt của Tổ (Theo Tâm Hoà Ngô Mạnh Thu - Kỷ Yếu Vĩnh Nghiêm Hải Ngoại - Năm 2000).

Cũng theo tác giả trên thì: Một trong những vấn đề Tổ Vĩnh Nghiêm luôn quan tâm nhất là việc chấn hưng Phật giáo, quy tụ các sơn môn về một mối. Sự hoạt động của Tổ và các tăng hữu cho mục đích cao cả đó vang động khắp nơi trong nước. Năm 1928, Hòa thượng Khánh Hòa ở miền Nam cử thiền sư Thiện Chiếu ra Bắc gặp Tổ và các sơn môn để bàn việc thành lập Việt Nam Phật Giáo Tổng Hội. Vì cơ duyên chưa thuận nên chưa tiến triển ngay được. Nhưng Tổ vẫn âm thầm, miệt mài với nền thống nhất. Những năm sau đó: miền Nam (1931), miền Trung (1933), miền Bắc (1934), lần lượt các Hội Phật Giáo được thành lập. Hội Bắc Kỳ Phật Giáo đã cung thỉnh Tổ Vĩnh Nghiêm lên làm Thiền Gia Pháp Chủ. Lúc đó, Tổ đã chín mươi tư tuổi, sức khỏe đã giảm sút nhiều. Nhưng vì nguyện ước Thống Nhất Phật Ðạo ấp ủ từ bao năm đã thành sự thực, nên Tổ hoan hỉ nhận trách nhiệm nặng nề ấy. Trong lễ suy tôn, tổ chức rất long trọng tại chùa Quán Sứ - Hà Nội - ngày 23 tháng 12 năm 1934, Tổ đã kêu gọi tăng ni hãy theo phép Lục hòa Phật dạy mà bỏ đi dị biệt của tông nọ phái kia để hết lòng chấn hưng Phật Giáo.

Sau bao năm tận tụy phục vụ đạo pháp, đào tạo tăng tài, góp công sức cho phong trào Chấn Hưng Phật Giáo, hòa giải sai biệt, đưa các sơn môn miền Bắc về chung một mái nhà, ngày Mồng Tám tháng Chạp năm Bính Tý (1936), Tổ an nhiên viên tịch tại chùa Vĩnh Nghiêm, thọ chín mươi sáu tuổi đời, tám mươi sáu tuổi đạo.

Ý nguyện của Tổ Vĩnh Nghiêm: "hòa hợp Tăng già, thịnh hưng Phật đạo để làm mẫu mực cho đời và giải thoát quần sinh" sẽ còn mãi trong tâm các hàng Phật tử.
TÌM HIỂU ĐẠO PHẬT - SỐNG ĐỜI THANH THẢN THEO PTVN 

Thứ Năm, 17 tháng 3, 2016

Vừa đi vừa đọc lại : họ Mạch ở khu vực Đền Cờn (Nghệ An)

Đọc bài của Mạch Quang Thắng.

Về tác giả này, blog này đã chạy một số bài của ông.

Đến bây giờ thì biết ông là người họ Mạch ở khu vực Đền Cờn.

Những lúc du lãng ở vùng phủ Diễn Châu ngày trước, nay là khu huyện Quỳnh Lưu và huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An, vẫn thi thoảng gặp người họ Mạch.

Bài này của Mạch Quang Thắng chỉ có giá trị duy nhất đối với tôi: xác nhận ông là người họ Mạch ở khu Đền Cờn.


Lấy nguyên về từ VHNA.

---

Mục lục số 311 [25.2.2016]


"2.     VĂN HOÁ VÀ ĐỜI SỐNG
TT
Số đăng
tải
Ngày phát hành
Tên bài
Tác giả
1
311
25/02/2016
Thưởng đỉnh Mỹ - ASEAN thành công đến đâu?
Đinh Hoàng Thắng
2
Đền Cờn – Điều đã mất khi nhìn thấy điều còn lại
Mạch Quang Thắng
"


Tôi  bài này với tâm trạng của một người thụ hưởng giá trị văn hóa của đền Cờn. Tôi không muốn phán xét. Tôi có thể nêu nhận biết của mình khi nhìn lại đền Cờn sau hơn 50 năm đã qua với một tâm trạng bình thường như bao con người khác mà đạo Phật đã chỉ giáo về 6 lục tình: HỈ, NỘ, ÁI, Ố, AI, LẠC.
Quan niệm
Quan niệm "ĐỀN CỜN" ở trong bài này là gồm hai ngôi đền làm thành một thể thống nhất (hai trong một). Tôi đã đọc nhiều tài liệu, nhiều sách, nhiều bài đã công bố trên các phương tiện truyền thông thì người ta gọi đền Cờn bằng nhiều tên khác nhau. Truyền thuyết về đền Cờn thì cũng lắm.
Còn tôi, tôi gọi đúng tên đền Cờn như người dân bản địa ở đây đã gọi. ĐỀN CỜN là chung cho cả hai đền, đó là ĐỀN TRONG và ĐỀN NGOÀI. Đền Trong là đền phía trong làng Cờn, tọa lạc mé sông Hoàng Mai, trên một gò đất, trên bến dưới thuyền, cây đa bến nước, ngày xưa có chợ phiên tấp nập cạnh bên. Còn đền Ngoài là ngôi đền nằm trên mỏm của núi Thằn Lằn (trong nhiều sách gọi là núi Hùng Vương), cái mỏm núi này nhô ra biển - tạo nên một cảnh sơn thủy tuyệt đẹp.
Đại thi hào Nguyễn Du đã đến đền Cờn và đã có một bài thơ. Không biết là Nguyễn Du viết bài thơ ấy về đền Trong hay đền Ngoài. Chắc là đền Trong.
Còn nhiều vua Trần trên đường chinh chiến có ghé vào đền Cờn, không rõ là ghé vào đền Ngoài hay là đền Trong. Chắc là đền Ngoài.
Đền Cờn tọa lạc ở làng Phương Cần xưa, bây giờ là phường Quỳnh Phương thuộc thị xã Hoàng Mai tỉnh Nghệ An. Làng Phương Cần (đọc trẹo đi là Cờn) có tên nôm là kẻ Càn (kẻ Cờn). Gọi là kẻ, hình như đó là tên của nhiều làng cổ mà tôi thường thấy ở vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, là nơi phên dậu Hoan Châu của Đại Việt xưa. Xung quanh kẻ Càn (Quỳnh Phương), còn có kẻ Sòi (Quỳnh Lộc), kẻ Trắp (Quỳnh Lập), kẻ Xóm (Quỳnh Liên), kẻ Đáy (làng Ngọc Huy, làng gốc của gia đình văn nghệ nổi tiếng của cố thiếu tướng nhạc sĩ An Thuyên), v.v.
Tôi viết lòng thòng như vậy là để nhấn mạnh một điều rằng, có "hai trong một", do vậy, khi tổ chức lễ hội gì đó, hay khi đầu tư trùng tu thì nên gộp hai đền đó vào cùng một như cái vốn có, như cái cần có. Cần như thế và chắc chắn như thế. Đừng có tách rời đền Trong và đền Ngoài ra. Thật ra, ở đền Ngoài, tính chất đền và chùa pha trộn nhau. Điều này có nguyên do của nó. Nhưng mà thôi, tôi sẽ viết riêng ở dịp khác. Đền và chùa pha trộn là nói về những bức tượng ở đó, có cả tượng phật nghìn mắt nghìn tay, nhưng chỉ để ở gian chái, còn chính giữa vẫn là tính chất đền đậm đặc.
Mất và còn - còn và mất
Người làng Phương Cần xưa kia gắn nhiều với các lễ hội. Đến nỗi mà không chỉ dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có lúc nhắc nhở bơn bớt đi, mà từ thời xưa đã có nhiều lần bị phê phán về việc dân làng tổ chức ra quá nhiều lễ hội hằng năm, kèm cả hủ tục và mê tín dị đoan, rất tốn kém, tốn kém cả tiền của và thì giờ.
Cũng có nguyên do. Làng Phương Cần chủ yếu là làng chài; dân chủ yếu là dân đánh cá, trừ một số rất ít hộ làm nông (nay không còn đất mà làm nông nữa). Cái điểm chung của dân đi biển là hay thờ phụng để mong có chữ AN. Mấy ngôi đền, chùa ở trong làng chính là những sinh hoạt văn hóa phi vật thể hay là cái không gian văn hóa mà trên đấy cư dân chài lưới thờ cúng cho sự THUẬN: thuận buồm xuôi gió, xuôi chèo mát mái, cá tôm đầy khoang, là an toàn tính mạng. Vì đi biển ngày xưa không như bây giờ có thuyền to, có máy móc và nhiều phương tiện dự báo thời tiết, chứ lúc xưa chỉ có chèo tay và nhờ sức gió cánh buồm; dự đoán thời tiết chỉ dựa vào kinh nghiệm. Số ngư dân bị chết ngoài biển hằng năm khá nhiều, nhất là những khi biển động, bão tố.
1. Đền Cờn vẫn thế, nếu tính tới đặc tính văn hóa tâm linh, tín ngưỡng của nó.
Đây đích thực là ngôi đền thờ Mẫu (Mẹ). Đền Ngoài chỉ là đền phụ mà thôi. Thờ Mẫu là tín ngưỡng rất phổ biến của người Việt. Ở Quỳnh Phương trước đây, người ta kiêng gọi tiếng "Mẹ" mà gọi mẹ đẻ của mình là "Chị" là để tránh húy tín ngưỡng. Mãi cho đến cuối những năm 60 đầu những năm 70 của thế kỷ trước, khi cuộc sống hiện đại làm ổ vào tâm thức lớp trẻ thì người ta chuyển dần một cách tự nhiên không ai gượng ép, từ gọi "Chị" sang gọi "Mẹ".
Thờ Mẫu là cái hồn cốt của đền Cờn, bên cạnh đó, xưa nữa có thờ thần hạt lúa, gắn với cả ước mong phồn thực trong mùa màng làm ăn, vì ở đây xưa tuy là chủ yếu làng chài nhưng vẫn có một phần dân cư làm nông nghiệp. Tứ vị thánh nương chỉ là cái cớ thôi, chứ đâu chủ yếu là tứ vị thánh nương. Cái lấn át của truyền thuyết là những đời sau dựng lên. Thật chẳng có Tống phi hay hoàng tộc triều nhà Tống bên Tàu gì ở đây cả. Chính vì cái vị thờ Mẫu phổ biến trong tín ngưỡng dân gian của người Việt này mà cho đến nay tôi thấy cơ man nào là đền thờ Mẫu kèm theo dạng thờ Tứ vị thánh nương ở nhiều nơi miền bắc. Thanh Hóa, Hưng Yên, Hà Nội, v.v. có nhiều đền thờ loại này lắm, mà nghe nói cái gốc là từ đền Cờn này. Ông Hoàng Tuấn Công (Tuấn Công thư phòng) đã có một loạt bài về "Đền Cờn xứ Nghệ ra Thanh" đăng ở đâu đó nói rõ vấn đề này.
Vẫn còn đó những lễ hội tháng Giêng hằng năm, người ta bây giờ gọi là lễ hội đền Cờn, có đua thuyền ,có hội "Chạy Ói". Ngày xưa chỉ có một tên duy nhất là lễ hội "Chạy Ói" chứ người ta không gọi là lễ hội đền Cờn. Hội đua thuyền là phần tất yếu phải có và nó đã hiện diện xưa nay ít khi bỏ đi, trừ lúc có chiến tranh phá hoại ác liệt. Nó là cái tiêu biểu của sự biểu đạt sức sống của quần tụ ngư dân làng Phương Cần.
2. Mất thì mất nhiều lắm. Có cái mất do thiên nhiên. Có cái mất do sự ấu trĩ của con người. Có cái mất do lòng tham, do đói kém.
Người ta bảo đền Cờn đẹp đầu bảng Nghệ Tĩnh, nghĩa là nó đứng thứ nhất trong tốp 4 ngôi đền ở Nghệ Tĩnh (Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch, tứ Chiêu Trưng). Nhưng nói đến đền Cờn là nói đến cả quần thể, nghĩa là cả cái khuôn viên rất đẹp. Khuôn viên ấy một thời là cả gần 10 héc ta. Giờ, xót xa thay, không còn cái khuôn viên sáng láng nên thơ ấy nữa. Đền Cờn được xây dựng về sau là từ thời nhà Trần. Trước đấy nữa là thời Lý. Nhưng cái còn lại sau này chủ yếu là từ thời nhà Nguyễn với kiến trúc cực đẹp, lộng lẫy, tinh xảo. Đền có tường thành bao quanh. Cái khuôn viên gần 10 héc ta đó nằm trên mé sông Hoàng Mai uốn khúc tạo thành một quần thể có lẽ không thể nào đẹp hơn. Trên bến dưới thuyền, xa xa là những dãy núi đá vôi. Mỗi khi thủy triều lên, cửa sông sáng láng nước biển ùa vào, nước sông dâng lên tận xa xa như biển rộng. Khuôn viên hình vuông, có hàng loạt cây cổ thụ: cây đa, cây gạo gai, cây xoài, muỗm, v.v,.
Thật đáng tiếc, qua bao cuộc bể dâu, nay khuôn viên, khung cảnh của ngôi đền Trong và cả ngôi đền Ngoài đã bị biến dạng một cách thảm hại!
Đầu tiên, người ta làm cầu bê tông kiên cố giải quyết được giao thông giữa hai bờ sông từ Quỳnh Phương nối lên các vùng phía bắc thay cho đi đò ngang. Dân có cầu đi. Đó quả là cái phúc. Nhưng cái họa ở đây là cách làm cầu. Để cho chiếc cầu ngắn lại, người ta đắp đập, đắp đê ngăn hẹp dòng sông lại, kết hợp đắp đê trước đây để làm đồng muối. Vì vậy, dòng sông trước mặt đền Trong bị nghẽn lại đến thảm hại. Thủy triều vẫn như muôn đời xưa nhưng không có cái thế lai láng, tràn trề nước, mà trông có vẻ bức bách, tắc dòng.
Năm 1966 hay năm 1967 gì đó, máy bay Mỹ ném bom đánh phá mấy cái sà lan chở hàng theo kênh Nhà Lê từ Thanh Hóa vào đỗ ở khu vực gần đền, cho nên đền Trong bị hỏng sạt mất mấy tòa sau.
Có lẽ do có tiếng là thiêng chăng, nên ngôi đền Trong và ngôi đền Ngoài không bị phá đi trong lúc lập các hợp tác xã hoặc trong thời kháng Pháp khi quan niệm rằng, đền đài là di tích của chế độ phong kiến xấu xa cần phải phá bỏ. Trong khi đó, ngôi chùa tuyệt đẹp với khung cảnh nên thơ và các tượng đá nguy nga thì lại bị phá nhường chỗ cho xây dựng cơ ngơi của khu bộ xí nghiệp sản xuất muối (Khu diêm trường muối Ngọc Huy).
Nay, nhiều cây cổ thụ đã bị chết. Trước đây, có cây đa ở ngay sát mép sông hàng trăm năm, nhiều lúc thủy triều lên, nước mặn tràn dưới gốc mà vẫn tươi tốt. Cành cây đa này tản ra, xòe thấp làm chỗ đệm cho bọn trẻ tắm sông trèo lên nhảy ùm xuống từng đợt tắm. Cây đa này đã từ biệt con người. Khuôn viên đền Trong bị thu hẹp lại một cách nhức nhối. Còn đền Ngoài thì còn bi đát hơn. Năm 1979, khi Trung Quốc đổ quân xâm lược biên giới phía bắc, một tâm lý ghét Tàu dâng cao. Một số người có máu mặt trong làng hô phá nát ngôi đền vì cho rằng di tích này liên quan đến thờ người Tàu! Tình trạng bị bồi thêm một nhát nữa. Cũng những năm đói kém đó, người ở đâu chứ không phải người của làng Phương Cần Quỳnh Phương, đến tìm vàng ở đó. Họ vật các tượng ra, phá nát để hy vọng tìm vàng trong các bức tượng. Nhất là các bức tượng người Chiêm Thành, họ moi bụng, đập đầu để tìm vàng. Chắc chẳng có vàng ở đó. Ngôi đền Ngoài tan hoang. Sau này có dựng lại, không ra dáng gì cả, những dấu tích xưa hầu như không còn.
3. Bây giờ, thời du lịch lên ngôi. Xô bồ hết chỗ nói. Đó là sự lấn át của lộn xộn, của cái thô kệch, của cái chủ trương chưa phù hợp.
Ngày xưa, người ta đến làm lễ ở đền Trong và đền Ngoài là thực sự thành tâm cho việc gì đó trong gia đình. Mà tít tận ngoài các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ cũng vào trong khi đó đi lại lúc ấy còn rất nhiều khó khăn. Bây giờ người ta đến đền với bao nhiêu tâm trạng lành dữ mà không lường được. Dọc từ chân cầu đến cửa đền Trong là dãy hàng cá tươi, nước mắm, hàng khô, quầy ăn uống lộn xộn, mất vệ sinh. Đành rằng phải có, nhưng nên để xa ra và sắp xếp cho có ngăn nắp. Chân núi lên đền Ngoài ở bờ biển thì có người chực dưới để ngả nón ăn xin!
Lễ hội thì từ lâu đã bị phía chính quyền can thiệp. Khổ! chính quyền can thiệp vào cái này mà làm chi. Giá trị văn hóa của dân thì phải trả lại cho dân. Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch đã nói thế rồi. Tuy rằng, ngày 29-1-1993, đền Cờn đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ra Quyết định số 68/QĐ-BVHTT công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, nhưng như thế không có nghĩa là chính quyền cứ "xắn tay" vào mà đứng ra tổ chức lễ hội và "quản lý" ngôi đền. Tốt nhất là chính quyền chỉ nên hỗ trợ, hướng dẫn lễ hội. Ngày trước, cùng lắm là các hợp tác xã đánh cá đứng ra hợp lực tổ chức lễ hội, chính quyền đứng ngoài ủng hộ. Thế mà lễ hội ra lễ hội, dân làng thật vui nổ trời nổ đất.
Nay chính quyền còn tận thu cho ngân sách. Lạ! thu hàng tỷ đồng hằng năm. Vị chi đền Cờn đã trở thành cái "Cây ngân sách" mà hái ra tiền. Chắc là không có cái kiểu toàn bộ tiền cúng viếng, lễ hội dành cho tu bổ đền và tổ chức lễ hội đâu. Văn hóa đã bị biến dạng rồi.
4. Một ngôi đền thờ Mẫu nổi tiếng. Lại được/bị nhuốm màu tâm linh thần bí, nổi tiếng thiêng. Một ngôi đền nổi tiếng đẹp, trước kia càng đẹp, bây giờ mặc dù đã bị "sứt mẻ" nhưng vẫn còn duyên. Không biết đền Cờn thiêng từ đâu, duyên từ đâu. Nó thiêng từ truyền thuyết. Nó thiêng từ sử chép mấy lần vua Trần đi đánh Chiêm Thành vào cầu khấn và thắng trận (Trần Thái Tông, Lê Thánh Tông), rồi nghe nói cả Quang Trung đều ghé qua. Nó nên thơ nữa là có duyên Đại thi hào Nguyễn Du đến thăm để lại thơ:
Mặt nước mênh mông bể lẫn trời
Ngôi đền thấp thoáng bãi ngoài khơi
Bến phú chiều tà cây man mác
Cửa bể thu dần khói tả tơi...
Phát triển du lịch?
Vâng, thì phát triển du lịch. Nhưng hãy cẩn thận. Nếu không, sẽ làm hỏng cả đền Cờn và lễ hội để rồi đến các thế hệ con - cháu - chắt - chít sau này chẳng còn cái gốc đền Cờn với tư cách là một không gian văn hóa dân gian.
Du lịch gì mà con đường từ Quốc lộ 1 đến đền Trong có 3 cây số mà đường không ra đường. Đường dân sinh còn chưa ra hồn chứ đừng nói là đường để phát triển du lịch! Nghe nói định dựng tượng vua Trần gì ở đó nữa. Xin đừng. Tượng đài trong lòng dân. Đừng tượng đài gì hết. Hãy dọn bãi cho du lịch đúng và hợp sinh thái. Các hàng quán cho trật tự sạch sẽ, gọn gàng. Dịch vụ trông xe, đưa đón cho lịch sự. Trả lại khuôn viên cho đền Trong. Trồng thêm cây cối cho đền. hãy xây nhà vệ sinh cho sạch sẽ. Hãy dẹp nạn ăn xin chèo kéo. Hãy dùng đồng tiền công đức cho có ý nghĩa. Hãy trả lại lễ hội cho dân chúng tổ chức, chính quyền chỉ đứng ra hỗ trợ mà thôi, v.v.
Kỳ vọng thì nhiều lắm.
Nhưng hãy như thế đã. Nếu làm được như thế mới bảo toàn được không gian văn hóa đền Cờn. Và, nếu làm được như thế mới phát triển được du lịch - thứ du lịch văn hóa. Và, nếu có như thế thì hai chữ PHÁT TRIỂN mới đúng nghĩa PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG. Chỉ có như thế, di tích lịch sử đền Cờn mới có chỗ đứng vững trong lòng dân Quỳnh Phương, lòng dân thị xã Hoàng Mai xứ Nghệ An. Xem thế, đủ thấy không gian văn hóa của ngôi đền quan trọng đến mức nào./.
http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/den-con-dieu-da-mat-khi-nhin-thay-dieu-con-lai