Hiển thị các bài đăng có nhãn trí-thức-Việt-Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn trí-thức-Việt-Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2016

Học giả Trần Nghĩa vừa qua đời (1936 - 2016)

Ông là thầy của chúng tôi. Tác giả của nhiều bộ sách công cụ quan trọng trong nghiên cứu thư tịch cổ Việt Nam. 

Bài viết đầu tiên trên Tạp chí Hán Nôm của tôi có bản thảo viết tay, mùa hè năm 1993, khi đang là sinh viên năm thứ ba, đã được thầy sửa chữa và đề nghị sửa chữa về cách thức trình bày. Đến nay, tôi vẫn lưu giữ những chỉnh lí bằng nét bút mảnh, gầy và rất dễ đọc của thầy trên bản thảo. Khi đó thầy là Tổng Biên tập.

Sau khoảng 20 năm, năm 2012 hay 2013, tôi viết một bài cùng chủ đề, đào sâu hơn, và dĩ nhiên vẫn cho đăng trên Tạp chí Hán Nôm. Có mạnh dạn lấy lại những đoạn thầy đề nghị sửa trước đây. Sau khi đã đăng chính thức, thầy - khi đó đã nghỉ hưu - trực tiếp gọi điện cho tôi để trao đổi. Tôi vô cùng khâm phục tinh thần khoa học của lớp trí thức Việt Nam như thầy. Cuộc trao đổi qua lại nhiều lần. Sau 20 năm, thầy đồng ý với khôi phục bản thảo của tôi.

Quãng các năm 2010 - 2014, sau một thời gian du lãng miền Trung, tôi cho đăng bài khảo cứu về một bia kí của gia đình Nguyễn Tấn ở Quảng Ngãi quê thầy, trên một số tạp chí (ở quê thầy thì cho đăng trên Tạp chí Cẩm Thành, còn ở trung ương thì là Tạp chí Văn hóa Dân gian). Thầy một lần nữa đánh tiếng, và hẹn dịp trao đổi. Tiếc là tôi du lãng đó đây luôn luôn, chưa có dịp trao đổi chi tiết với thầy về công việc khai thác bia kí đó. Cũng bài đó, với bản in rút gọn trên Cẩm Thành, thì có ý kiến trao đổi của học giả Lê Vinh Bổn, ở đây.

Bây giờ, tinh anh của thầy đã về lại với núi Ấn sông Trà linh thiêng của quê hương Quảng Ngãi.

Dưới là tin chính thức từ Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

---

"
  Tin tức
TIN BUỒN
Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Gia đình vô cùng thương tiếc báo tin
Cập nhật lúc 17h37, ngày 27/04/2016
TIN BUỒN

Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Gia đình vô cùng thương tiếc báo tin:
PGS. TRẦN NGHĨA
Sinh ngày: 14 - 01 - 1936
Quê quán: Hành Thịnh, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi.
Nơi ở hiện nay: Tập thể Thành Công, Hà Nội.
-     Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1980-1983).
-     Nguyên Quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1983-1988).
-     Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1988-1990).
-     Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Hán Nôm (1986-2001).
Sau một thời gian lâm bệnh nặng đã từ trần vào hồi 18h30’ ngày 26 tháng 4 năm 2016.
Lễ viếng: tổ chức vào hồi 7h00’ đến 8h30’, thứ Bảy ngày 30/4/2016 (tức ngày 24 tháng 3 Âm lịch), tại Nhà Tang lễ Bệnh viện 354, Đội Nhân, Ba Đình, Hà Nội.
An táng:vào hồi 13h00’ cùng ngày tại: Thiên Đức Vĩnh Hằng Viên (Bảo Thanh, Phù Ninh, Phú Thọ).

                                                                                Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Gia đình
                                                                                                         Kính báo
"

Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2016

Những người bị lãng quên : Nguyễn Trọng Phấn (qua giới thiệu của Kiều Mai Sơn)

Thật ra tập bản thảo cũ làm nền cho cuốn sách dịch được giới thiệu, mà Nguyễn Trọng Phấn là dịch giả, ở dưới đây, vừa được in ra, tôi đã không sử dụng cho một cuốn sách cách đây 6 năm về trước. Cuốn mà Vương Trí Nhàn nhắc tới ở entry này.

Lí do rất đơn giản: bản dịch đó là phóng tác. Nên chúng tôi quyết định tạm gác lại chưa dùng đến tập bản thảo ấy (cắt ra từ báo xuất bản trước năm 1945).

Bây giờ, người ta đem tập báo cắt ấy mà xuất bản thành sách.

Dưới là lời giới thiệu, dạng báo chí, của Kiều Mai Sơn.


Lấy từ Fb KMS.

---

"



Son Kieu Maiさんが写真2件を追加しました。
THỜI CỦA ĐẠI TRÍ THỨC THÀNH ĂN MÀY

Trong Toạ đàm giới thiệu sách Xã hội Việt Nam từ thế kỷ 17; tôi chỉ nói về Nội dung của cuốn sách mà ít nói về cuộc đời riêng của Học giả Nguyễn Trọng Phấn. 
Nguyễn Trọng Phấn (1910-1996), quê làng Lại Yên, Hoài Đức, Hà Đông. Ông là sản phẩm của nền giáo dục Pháp - Việt, là thế hệ trí thức tinh hoa của Việt Nam. 
Ông Phán Phấn - người quê hương vẫn thường tự hào về ông như vậy. Vì, ông là người có bằng cấp cao nhất làng thời Pháp thuộc. Đã làm công chức tới ông Tham, ông Phán; đã được cử sang tận Phnompenh để làm việc và ông còn làm thủ lĩnh của Hội Tam Điểm ở thủ đô của Cambodia những năm đầu 1940.
Ông vinh dự được làm việc tại Viễn Đông Bác Cổ tại Việt Nam cùng những nhà trí thức Nguyễn Văn Huyên; Nguyễn Văn Tố; Trần Hàm Tấn; Nguyễn Thiệu Lâu... (Cụ Trần Hàm Tấn sau này trở thành ông từ giữ đền Lý Quốc Sư. Nghe tôi kể đến đây thì Nhà dân tộc học Nguyễn Mạnh Tiến cứ mồm chữ O, miệng chữ A: thế à? Thế à? Một đại trí thức cỡ như Trần Hàm Tấn mà lại bị đối xử như vậy sao?).
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Nguyễn Trọng Phấn làm việc tại Bộ Giáo dục; rồi Thư viện Khoa học Xã hội Trung ương cho đến khi nghỉ hưu.
Cuối đời, người ta thường thấy ông trong hình ảnh một ông già cao lớn luôn khoác bên mình cái bị (mà trong đấy là sách); họ tưởng đó là ông già đi ăn mày. 
Khi tôi vào tuổi mười tám, đôi mươi, đã nhiều lần được nghe nhà văn Sơn Tùng kể chuyện về sự uyên bác của cụ Nguyễn Trọng Phấn khi cụ vô tình gặp gỡ và trò chuyện với người nước ngoài tại Văn Miếu hoặc Bờ Hồ (nhà văn Thiên Sơn; nhà báo Từ Khôi là những bậc đàn anh có nhiều năm được hầu chuyện cụ Phấn hẳn cũng rõ chuyện này).
Phó Chủ tịch - TTK Hội KHLS Việt Nam Dương Trung Quốc gọi Nguyễn Trọng Phấn là người thuộc THẾ HỆ VÀNG, người ẩn danh của thế hệ ấy, và mẹ ông gọi cụ là NGƯỜI DANH GIÁ.
Tôi thử đặt ra một cách định danh mới, Nguyễn Trọng Phấn là người thuộc thế hệ ĐẠI TRÍ THỨC TRỞ THÀNH ĂN MÀY, liệu có cực đoan không?
Cuối cùng, xin kể câu chuyện, tại sao chúng tôi gọi Học giả Nguyễn Trọng Phấn.
Ban đầu, tôi muốn dùng Dịch giả để gắn với bản dịch sách này. Nhưng đây chỉ là những phần dịch thuật có chọn lọc. Ông Long Ngo The nói sử dụng như thế chưa chính xác. 
Gọi là Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Phấn. Đúng, vì ông làm nghiên cứu tại Viễn Đông Bác Cổ Pháp kia mà (chắc so sánh với Nghiên cứu viên cao cấp của ta bây giờ thì...).
Gọi là Nhà báo. Đúng. Ông viết báo Thanh Nghị suốt 5 năm.
Gọi ông là nhà giáo. Đúng. Ông là thầy dạy Địa lý tại Khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc), với sự hiện diện của Gs Nguyễn Lân Dũng và Ts Nguyễn Giang Tiến là học trò tại Toạ đàm. 
Ông là Nhà thư viện học...
(Nhiều nhà quá; lúc đó tôi nhìn xuống dãy ghế đầu tiên, có Gs Nguyễn Lân Dũng và chợt nhớ đến cái card của ông).
Chúng tội gọi Nguyễn Trọng Phấn là Học giả theo đúng với những đóng góp của ông cho ngành KHXH./.
(Ảnh: Thằng tôi đang trình bày nội dung cuốn sách tại Toạ đàm theo lệnh của ông Nguyen Manh Son. 
Kể ra trông tôi cũng giống cái viền bìa sách phết ông Trần Ban nhể?)
- Pê-ét: Những cuộc Toạ đàm mang lại tri thức và giá trị học thuật này thường vắng bóng các phóng viên. Họ thường xúm đông xúm đỏ ở chỗ xi-lip hoặc xu-chiêng tân thời! (Thô tí nhưng mà thật. Tính xoá câu này vì đụng chạm nhưng cứ để lại vì nó sẽ là ý tưởng cho nội dung một bài viết sau này. Xoá xong là lần sau đố mà nhớ được đã viết câu này).


Son Kieu Maiさんの写真

Son Kieu Maiさんの写真
いいね!
コメントする
コメント1件
コメント
Từ Khôi cụ Nguyễn Trọng Phấn, cụ Phí Văn Bái, cụ Đào Phan (em ruột cụ Đào Duy Anh)... là những trí thức lớn và những nhà cách mạng lão thành mà tôi có hân hạnh ko chỉ được gặp mà còn được các cụ cho ngồi hóng chuyện ở chiếu Văn Sơn Tùng. Thế mà đã hai mấy năm trời trôi qua... Son Kieu Mai tuy trẻ, có thể lại chưa từng gặp cụ Phấn lúc sinh thời nhưng được hầu chuyện các cụ sau này đã cảm niệm nhiều về sự uyên bác của cụ Phấn thì rất đáng hoan nghênh. Nước Nam ta sao cứ dần mai một đi những người tài mang dáng điệu giản dị như cụ Phấn như thế?. Ngậm ngùi
いいね!返信
"

https://www.facebook.com/son.kieumai/posts/536189769900688

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2016

Thanh Minh và hội đạp thanh (qua một bài vịnh Kiều năm 1921)

Các nhà nho hồi đầu thế kỉ XX rất mê Kiều của Nguyễn Du.

Có ông còn mê mẩn đến mức đem Kiều (viết bằng chữ Nôm) ra mà vịnh. Kì quái là vịnh bằng chữ Hán. Tức dùng thơ chữ Hán để vịnh về những đoạn thơ Nôm của Nguyễn Du. Cái ngược đời ấy, nhất là khi quốc ngữ đã thịnh, cũng là một thứ chơi ngông.

Nhân tiết Thanh Minh 2016, thử dẫn một bài vịnh như vậy, đoạn về hội đạp thanh.

Cụ thể như sau:




Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2016

Tranh biện về nhà Mạc : Dương Thu Hương mạt sát Mạc Đăng Dung và giới sử học Việt Nam

Tư liệu video vừa được một bạn có quan tâm đến sử nhà Mạc gửi cho, nhân có cuộc tranh biện tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia vào chiều ngày 27/3/2016 (tin đã điểm ở đâyở đây).

Video khá sốc. Nữ nhà văn vẫn tỏ ra nguy hiểm như bất cứ lúc nào.

Dương Thu Hương gọi Mạc Đăng Dung là "thằng", và không tiếc lời mạt sát.

Bà lên án các nhà nghiên cứu trong nước, tiêu biểu là Viện trưởng Viện Sử học hiện nay Đinh Quang Hải. Cho họ là đã "hãm hiếp lịch sử", rồi là "trái tim chó".


Cụ thể xem ở dưới:


"
721 lượt xem
Xuất bản 24 thg 2, 2016

"
https://www.youtube.com/watch?v=qqIG9xqxw3Y



Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2016

Văn nghệ Thứ Bảy : Học giả Việt Nam kể chuyện Đại học Yale


Người kể chuyện là bác Trần Đức Anh Sơn.

Lấy nguyên về từ Fb của bác.

---


Từ thư viện ra, đang đứng chờ xe bus trở về nhà thì gặp 2 người Trung Quốc, thua mình khoảng năm, ba tuổi. Người đàn ông chào: “Ní hảo”. Mình chào lại: “Ní hảo”. Anh ta hỏi tiếp: “Tung quớ rấn a?”. Mình nói: “Pú xư! Ủa xư duê nán rấn”. 

Nghe đến đó thì người đàn bà lên tiếng bằng tiếng Anh: “Oh, Vietnamese. Are you student at Yale?”. Vậy là tụi mình bắt chuyện, nói lẫn lộn cả tiếng Anh lẫn tiếng Tàu bập bẹ của mình. 

Qua câu chuyện mới biết họ là 1 cặp vợ chồng. Người vợ là giáo sư Hóa học ở Đại học Thượng Hải, được học bổng qua Yale làm visiting fellow. Người chồng đi theo vợ, diện visa J-2. Chị vợ khuôn mặt không xinh nhưng trông rất phúc hậu. Người chồng có vẻ láu lỉnh hơn. 

Họ cho biết họ vừa tới New Haven “a couple days” (lời người vợ). Vừa thuê được nhà, bây giờ đang bắt xe bus đi khám phá thành phố này. Mình hỏi họ đã đi được những chỗ nào rồi. Họ nói mới biết 1 vài nơi, đi tìm được vài nơi mua sắm, nhưng mà thành phố này nhỏ nên sẽ khám phá nhanh thôi. 

Mình rút trong balo ra 1 tấm bản đồ đưa cho họ nói: “Đây là bản đồ New Haven, có các tuyến xe bus, mạng lưới giao thông, siêu thị, bệnh viện… Các bạn giữ tấm bản đồ này để sử dụng”. Rồi mình bật điện thoại lên, chỉ cho họ cách cài đặt phần mềm Rider để tìm Citybus của New Haven và Yale shuttle bus (miễn phí). Hai vợ chồng cám ơn rối rít. 

Chị vợ nói: “Tôi quá sức ngạc nhiên khi tới đây, vì thành phố quá nhỏ, quá yên bình, quá trong lành. Tôi có thể đi bộ khắp thành phố này. Con gái chúng tôi sẽ có 1 năm sống yên tĩnh ở đây. Tôi vừa đưa nó vào trường nhập học. Giáo viên ở đây quá tốt… Ở Thượng Hải không bao giờ có cảnh thanh bình như thế này. Luôn đông đúc, ồn ào và ô nhiễm không khí. Chúng tôi phải dậy rất sớm mới có thể tới trường đúng giờ. Còn ở đây chỉ mất 10 phút xe bus là tới trường rồi. Lại miễn phí. Tốt quá…”.

Rồi chị ấy say sưa khen New Haven và kể cho mình nghe đã thuê nhà ở đâu, giá bao nhiêu, hoa quả ở đây ngon như thế nào. Chị cũng hỏi mình ở đâu, thuê nhà giá bao nhiêu, có đem vợ con qua Mỹ không… Khi mình nói gia đình mình qua đây 4 người. Chị ấy ngạc nhiên nói: “Big family”.

Mình nói: "Ở Việt Nam có hai con là đúng chuẩn, nhưng cũng có người có tới chục đứa con". Chị ấy hỏi: “Vậy có bị phạt không?”. Mình trả lời: "Có, nhưng không phạt nặng lắm". Chị ấy nói: “Ở Việt Nam sướng, tiến bộ hơn Trung Quốc, vì ở Trung Quốc chỉ sinh 1 đứa con thôi. 2 đứa là tuyệt đối cấm”. 

Chị lại hỏi: “Tiền thuê nhà của anh 1.300 usd/ tháng thì làm sao còn tiền mà sống được?”. Mình nói: “Học bổng của tôi 1 tháng 3.000 usd. Tôi có mang theo tiền tiết kiệm nên cũng tạm ổn”. Chị nói: “Chính phủ Việt Nam giàu quá. Chính phủ Trung Quốc cấp học bổng cho tôi một tháng là 1.800 usd thôi. Tôi phải trả tiền thuê nhà là 900 usd/ tháng. Cả nhà sẽ sống trong 900 usd còn lại. Vì thế chồng tôi sẽ phải tìm việc làm thêm ở đây mới đủ sống. Nhưng mà anh biết rồi đấy, mỗi năm chính phủ Trung Quốc cấp hàng chục ngàn học bổng cho những người như tôi ra nước ngoài nghiên cứu, vì thế mức cấp học bổng không thể nhiều. Việt Nam ít người hơn nên cấp học bổng cao hơn. Nhưng dẫu sao chúng tôi cũng được chính phủ Trung Quốc và chính phủ Mỹ tạo điều kiện đến đây nghiên cứu 1 năm là hạnh phúc rồi, lại còn có cơ hội cho chồng con đi theo để học tập và sinh sống ở một nơi yên bình như thế này. Tôi mừng quá…”

Xe đến, chúng tôi lên xe, chị lại say sưa nói về dự án nghiên cứu ở đây, về những người bạn mới trong khu chung cư chị ở, và hỏi mình về Việt Nam, về Đà Nẵng, về công việc của mình… 

Trong câu chuyện, chị cứ xuýt xoa: “Việt Nam giàu thật đấy, cấp học bổng cho học giả sang Mỹ nghiên cứu tới 3.000 usd/ tháng, gần gấp đôi Trung Quốc. Anh sướng thật. Tôi ghen tị với anh”. 

Mình chỉ cười mà không nói gì, vì rằng, học bổng của mình là do Chính phủ Mỹ cấp, thông qua Fulbright Visiting Scholars Program.

Vậy đó, có những việc không phải lúc nào cũng nói ra được.

NGƯỜI NƯỚC HUỆ (từ New Haven, Connecticut)


https://www.facebook.com/photo.php?fbid=10205047607544450&set=a.10200601193226871.1073741828.1670718810&type=3&theater

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2016

Giải đặc biệt dành cho Thụy Khê


Thông tin lấy về từ Văn Việt.


---

2.

4 THÁNG BA, 2016

LỜI CẢM TẠ CỦA THỤY KHUÊ
Kính thưa quý vị,
Kính thưa anh Nguyên Ngọc và toàn thể hội đồng giám khảo giải Văn Việt 2014-2015,
Nhận một giải thưởng văn học luôn luôn là một vinh hạnh, bởi ngoài những tiêu chuẩn về nghệ thuật dành cho một sáng tác, tiêu chuẩn khoa học dành cho một công trình nghiên cứu, mà mỗi thành viên ban giám khảo đã lấy làm chuẩn mực để đánh giá, còn có sự tin cậy và hy vọng ở người nhận giải, một cố gắng, một tiếp tục, một tiến triển.
Đối với tôi, sự nhận giải hôm nay, còn có thêm những ý nghiã khác:
Trước hết, giải thưởng này như một nối kết niềm tin giữa những ngòi bút trong nước và ngoài nước, cùng chung một lý tưởng: tìm cách đưa văn học và nghiên cứu, ra khỏi tình trạng bế tắc hiện thời, bằng cách kích thích những tài năng mới nơi người viết và những cảm thức, những say mê mới, nơi người đọc, khiến cả đôi bên đều thấy những lợi ích tinh thần mà việc viết và việc đọc có thể đem lại cho chúng ta.
Giải thưởng này, theo sự hiểu biết của tôi, là giải thưởng đầu tiên, hoàn toàn được xây dựng bằng công sức của những người trong một văn đoàn chưa thành hình, lấy tự do tư tưởng làm chủ đích.
Giải thưởng này, theo sự hiểu biết của tôi, là giải thưởng đầu tiên, của một văn đoàn chưa thành hình, hội tụ những ngòi bút, không phân biệt, biên giới, lằn ranh, trong ngoài, lấy sự phục hưng nền văn học nghệ thuật của toàn thể nước Việt, trong quá khứ, hiện tại và tương lai, làm lợi khí tinh thần.
Công việc mà Văn Việt đã làm được trong hai năm qua, tuy còn nhiều thiếu sót, nhưng đã cho ta thấy một điều: chúng ta đã bắt đầu, chúng ta đã làm, rồi chúng ta sẽ có những thành quả.
Sự bắt đầu nào cũng đầy sơ suất, nhưng điều quan trọng là tiếp tục và tiến triển, và đó là ý nghiã đầu tiên của giải thưởng văn học mà tôi được nhận ngày hôm nay.
Xin thành thật cảm ơn quý vị.
Thụy Khuê
http://vanviet.info/so-dac-biet/loi-cam-ta-cua-thuy-khu/





1.


4 THÁNG BA, 2016



Thưa các bạn,
Ban Giám khảo Giải Văn Việt lần thứ nhất về Nghiên cứu Phê bình gồm nhà nghiên cứu Hoàng Dũng, nhà thơ Hoàng Hưng, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, nhà văn Nguyên Ngọc, và nhà nghiên cứu phê bình Phạm Xuân Nguyên đã nhất trí với 5/5 số phiếu trao:
Giải chính thức cho nhà phê bình Inrasara với loạt bài Hồ sơ biên bản so sánh.
Là một nỗ lực dựng lên diện mạo thơ Việt đương đại, là những trăn trở về ý nghĩa và đóng góp thật sự của thơ cùng nghệ thuật nói chung, Hồ sơ biên bản so sánh dự định gồm 30 bài, đã đăng 19 bài trên Văn Việt đều đặn từ ngày 5/10/2015 đến nay.
Biên độ thơ Inrasara chọn lựa để “lập hồ sơ” là không giới hạn: thơ của tác giả trong nước và ngoài nước, thơ truyền thống (như lục bát) và cách tân (như tạo hình), thơ từ nhiều trường phái hiện đại và hậu hiện đại, thơ đa diện chủ đề từ tình yêu đến thời sự chính trị, thơ là trò chơi con chữ trong khung khổ mặt giấy đến trò chơi trình diễn trên sân khấu và đời thường… Tất cả đều cùng hướng đến hai mục tiêu, cũng là hai thao tác để anh đưa “hồ sơ” đến với độc giả: giới thiệu và so sánh.
Anh không bận tâm đến việc chọn mẫu tác phẩm giới thiệu sao cho là tiêu biểu nhất cho một nhà thơ, cho một nền thơ, như kiểu thẩm định của các bậc tiền bối (Hoài Thanh chẳng hạn) mà để mặc việc lựa chọn chảy theo dòng thời sự có khi đầy bột phát, ngẫu hứng và tất nhiên đi liền với sự độc đáo của sinh thể thơ, như trường hợp thơ thời sự của Lê Vĩnh Tài về chủ quyền biển đảo, thơ “Đâm ja” của Bùi Chát đưa ngôn ngữ về phía ngoại biên, thơ đột phá thi liệu (“bò” thay thế “ngựa”) của Lam Hạnh bên dàn đồng ca một giọng của các nhà thơ trẻ, “thơ” “Tôi là cột điện” biến đường phố thành không gian trình diễn của Lê Anh Hoài, thơ tạo hình của Trần Wũ Khang,… Những nghịch âm đa giọng này đã được lựa chọn (tưởng chừng) ngẫu nhiên theo tùy hứng người phê bình lại vẽ lên tương đối rõ ràng về khuôn mặt thơ Việt đương đại. Đây không phải một ăn may, mà là quá trình làm việc có quy trình dựa trên một số nội hàm chủ chốt: “hậu hiện đại”, “ngoại vi” và “tự do”.
“Hậu hiện đại”, “ngoại vi” và “tự do”. Đây cũng là ba từ khóa quan trọng có mặt trong hầu hết các bài viết. Nhà văn bị đóng khung vào định chế và tự do viết bị thách thức: “Đừng nói “tàu Trung Quốc”, khi báo chí chính thống Nhà nước vẫn còn xài khái niệm “tàu lạ”. Đừng động đến đề tài chiến tranh biên giới Việt Trung khi 16 chữ vàng vẫn còn linh nghiệm. Thi đua yêu nước, nhưng đừng viết về các vụ biểu tình. Đừng nhấn vào bề tối của cơ chế, như chuyện tham nhũng chẳng hạn; nếu có ngứa tay viết về nó, tránh để đừng chạm đến mấy chiếc ghế có vai trò trọng trách. Toàn dân sử dụng Facebook là tốt, song đừng like mấy bài bình luận chống phá chế độ ta. Tự do ngôn luận, đừng vi phạm tinh thần Nghị định 72. Tóm lại, nhà văn Việt Nam “viết hoàn toàn tự do” (chữ của nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn), cả “sống và viết hoàn toàn tự do” (chữ của nhà thơ Vi Thùy Linh), nhưng nhớ đừng đụng đến đề tài tự do chính trị như vụ đa nguyên, đa đảng. Mênh mông đừng hiện diện trong/ lởn vởn quanh đầu óc nhà văn Việt Nam, khi ngồi trước trang giấy/ màn hình trắng (Bài 16: Từ “Đừng!” của Đinh Linh đến “Luộc” của Lý Đợi). Nhưng những cái “đừng” húy kị ấy lại là nguồn cảm hứng sáng tác vô bờ bến cho những nhà thơ yêu sự dấn thân trong cuộc đời và thể nghiệm trong nghệ thuật. Inrasara luôn đứng về phía những người này. Họ tạo nên một dòng thơ hậu hiện đại gắn liền với phía ngoại vi vì họ ưa sự tự do, cái mà dòng thơ được coi là phía trung tâm/ chính thống không có được. Inrasara đã không chút thỏa hiệp với điều này: “[T]hứ phù phiếm trả giá bằng bao tốn kém với cả khối tòng thuộc… thì còn gì là tự do” (Bài 3: Thơ trình diễn Việt – từ hiện đại đến hậu hiện đại tiến lên… sến). Và bởi vì thơ “sợ sự thật”, “thơ tự bịt mắt và bó tay để hạn định mình làm ra thứ chữ nghĩa có thể được đăng, được in, để được đăng đàn diễn các loại” thì “mọi trò diễn chỉ dẫn đến thứ ảo tưởng của ảo tưởng: ảo tưởng về tự do” (bài 19: Lê Vĩnh Tài & những trò diễn của thơ).
Vậy là, anh đã hi sinh cái cụ thể cho cái khái quát, không nhằm khắc họa khuôn mặt kĩ càng từng phong cách thơ mà dựng lại một con đường cho thơ và kiên định với lựa chọn ấy. Đó cũng là lí do anh chọn thao tác so sánh một cách rất… phản so sánh khi không giấu giếm thái độ đứng về phía những nhà thơ/ bài thơ mạnh dạn cách tân thi tứ, lối chữ cắt dán và giọng điệu giễu nhại của hậu hiện đại trong tương quan với các bài thơ/ dòng thơ “phải đạo”, đúng đường lối. Đó không chỉ là lí tưởng mà còn là nỗi niềm đau đáu. Nên bỏ qua thao tác khoa học nghiêm nhặt, ở đây có sự ưu ái trước tiên là dành cho cái mới và thứ hai là dành cho những nhà thơ trẻ, những người có khả năng chấp nhận và tìm tòi cái mới.
Cái táo bạo và độc đáo của Inrasara đôi khi ở ngay trong thao tác so sánh. Chẳng hạn nếu viết về Tố Hữu hay Bùi Chát mỗi người một bài độc lập thì chẳng có gì làm ai ngạc nhiên. Nhưng đem so sánh Tố Hữu với Bùi Chát, mà lại về chuyện “nhìn lại thế đứng của đĩ Việt Nam”, thì Inrasara đã chơi một cú montage, làm bật lên bao ý nghĩa ngầm ẩn.
Hồ sơ biên bản so sánh” là một lao động nghệ thuật nghiêm túc và tâm huyết, là một cách đọc về thơ tiếng Việt mang tính khơi gợi và có khả năng truyền cảm hứng cho độc giả nói chung. Có lẽ, cái đáng quý sau cùng là sự “tự thức, tự tri, tự ngộ” (chữ dùng của Inrasara) sau khi khép lại hồ sơ, của một ngòi bút phê bình đậm nhân tình thức gọi nhân tính đương đại đang bên bờ hố thẳm.
*
* *
Cũng với 5/5 số phiếu, Ban Giám khảo nhất trí trao:
Giải đặc biệt cho nhà nghiên cứu Thụy Khuê với loạt bài về Văn học miền Nam 1954-1975 và công trình biên khảo Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long.
Thụy Khuê là người viết mở đầu cho chuyên mục Văn học miền Nam 54-75, với một bài khái quát nhan đề Văn học Miền Nam đăng vào giữa tháng 7/2014 và sau cùng là bài về Nhất Linh đăng vào cuối tháng 10/2015, tổng cộng là 14 kỳ, trong số (cho đến nay) 185 kỳ của chuyên mục này.
Thụy Khuê khảo sát Văn học miền Nam, chú ý đến các đặc điểm, đến nhóm và khuynh hướng, đến lực lượng sáng tác, đến tình hình báo chí nói chung đã đành, mà còn chú ý đặc biệt đến vai trò của triết học và các nhà viết sách triết học. Vì thế, trong số 12 tác giả bà có bài viết riêng, thì đến ba người – Nguyễn Văn Trung, Trần Thái Đỉnh và Trần Văn Toàn – là giáo sư Triết. Không những thế, Thụy Khuê còn dành thì giờ phân tích một số cuốn sách triết tiêu biểu của các tác giả này. Đó là cách tiếp cận rất đúng, nhất là nếu ta nhớ ở miền Nam triết học có ảnh to lớn như thế nào.
Các tác giả được Thụy Khuê viết riêng đều tiêu biểu cho Văn học miền Nam 1954 – 1975, từ Nhất Linh, Vũ Khắc Khoan, Bình Nguyên Lộc, đến Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Nguyên Sa, Võ Phiến, Mai Thảo, Bùi Giáng. Mỗi tác giả là một bài viết không dài, nhưng cho thấy được hồn cốt của tác giả đó. Tất nhiên, Văn học miền Nam không chỉ chừng ấy khuôn mặt và có lẽ Thụy Khuê cũng chưa dừng việc nghiên cứu của mình ở đó.
Là người chuyên viết về văn học, Thụy Khuê là người viết chắc tay và đáng tin cậy về vấn đề này. Nhưng đáng ngạc nhiên, là qua địa hạt Sử học, Thụy Khuê có một công trình đầy khám phá: Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long. Đây là một khảo cứu công phu đăng trên Văn Việt từ giữa tháng 3 năm 1975 đến cuối tháng 10 cùng năm, cả thảy đến 32 kỳ.
Đề tài không mới. Trước Thụy Khuê 100 năm, trên tập san Đô thành hiếu cổ (BAVH) từ 1917 đến 1926, L. Cadière chủ xướng và thực hiện loạt bài Les français au service de Gia Long. Từ đó đến nay, hàng chục công trình của nhiều nhà sử học tên tuổi cày đi xới lại vấn đề này. Làm thế nào mà Thụy Khuê vượt qua các những người đi trước, những Charles Gosselin, Charles B. Maybon, Léopold Cadière, Georges Taboulet, Charles Fourniau,… về phía Pháp; những Trần Trọng Kim, Trần Huy Liệu, Phan Khoang, Phạm Văn Sơn, Đào Đăng Vỹ, Lê Thành Khôi, Nguyễn Thế Anh, Nguyễn Khắc Ngữ, Tạ Chí Đại Trường,… về phía Việt Nam?
Trước hết, đó là nhờ tác giả biết dựa chắc vào sử triều Nguyễn, đặc biệt là Đại Nam thực lục. Đây là cuốn sử bắt đầu in khi Minh Mạng qua đời, do chính nhà vua cho soạn nhưng không duyệt, và có chứng cứ cho thấy các sử thần được tự do trong viết sử. Thứ hai, là nhờ tác giả đối chiếu các sử liệu, tỉ mỉ và cẩn thận, với tinh thần phản biện cao, giữa Đại Nam thực lục và tư liệu của Pháp và giữa các tư liệu của Pháp với nhau, chứ không vội vàng tin một chiều vào tư liệu của một phía. Đó là cả một cuộc điều tra lịch sử công phu và nghiêm ngặt, được gợi hứng từ công trình Nguyễn Văn Tường (1824-1886) và cuộc chiến chống đô hộ Pháp của nhà Nguyễn của Nguyễn Quốc Trị (tác giả tự xuất bản, 2013, Maryland, Hoa Kỳ), nhưng đi xa hơn rất nhiều.
Kết quả, là những kết luận có tính chất lật đổ, phá tan tành cái mà bà gọi là “huyễn sử”. Chẳng hạn:
· Bá Đa Lộc hoàn toàn không giúp được gì cho Gia Long.
· Những người Pháp được tôn xưng là “sĩ quan”, “kỹ sư”, “kiến trúc sư”, nhà lãnh đạo, tổ chức và huấn luyện quân đội, xây dựng những thành quách “Vauban” ở Việt Nam… thực ra là những người lính vô học, đào ngũ, không đủ kiến thức để làm được những công việc đó.
· Tất cả mọi công trình xây dựng (như thành Gia Định và thành Diên Khánh, cũng như kinh thành Huế sau này), đóng tàu và luyện tập quân sự đều do người Việt thực hiện dưới sự điều khiển của chính Gia Long.
· Hai tàu chiến Pháp Gloire và Victorieuse đến Đà Nẵng, ngày 15/4/1847, đã tấn công lén, tiêu diệt 5 thuyền chiến bọc đồng của triều đình, rồi bỏ trốn, chứ không phải bị tàu Việt tấn công trước.
· Về mặt kỹ thuật, tàu Việt thời Gia Long ngang ngửa với tàu phương Tây.
· Tự Đức có “một chính sách chống ngoại xâm ôn hoà, sáng suốt, và có tổ chức”, chứ không phải là một ông vua bạc nhược, chỉ ham thơ văn.
Bằng các tư liệu không đáng tin, thậm chí có thể khẳng định là ngụy tạo, các sử gia Pháp cố dựng lên huyền thoại “trước khi người Pháp đến, ta không có gì cả, chính người Pháp đã đem “văn minh” cho chúng ta và dựng lại ngai vàng cho nhà Nguyễn”. Điều đáng nói là “lịch sử” bịa đặt của các học giả thuộc địa của Pháp lại ảnh hưởng đến hầu hết các sử gia Việt Nam, khi họ “tận tín” vào sử liệu của Pháp. Bằng công trình này, Thụy Khuê khẳng định: “Chúng ta đã mất nước về tay Pháp; thất bại đó ta phải chịu trách nhiệm, nhưng không thể để cho dĩ vãng lịch sử của dân tộc bị cướp trắng [...]”. Bà đã khai quật được lịch sử bị chôn vùi, một cách có chủ đích hay do mặc cảm tự ty đối với phương Tây hoặc do thiên kiến chính trị.
Thụy Khuê chủ trương viết lịch sử như nó vốn có, cứ không phải để “đánh giá” lịch sử. Bà phản đối việc “người ta tự đứng trên lịch sử để phát biểu và không cần biết những sự thực xoay quanh những nhân vật lịch sử này như thế nào. Người ta không tìm hiểu, nghiên cứu, mà tùy hứng “đánh giá”: Người ta kết tội Phan Thanh Giản phản động rồi sau “đánh giá lại” là “yêu nước”. Và bà chua xót nhận xét: “Lịch sử viết theo đúng quy luật như thế, tôi nghĩ rằng thời đại chúng ta còn kém xa thời đại Minh Mạng”.
*
* *
Trao giải chính thức cho Inrasara và giải đặc biệt cho Thụy Khuê, Ban Giám khảo muốn cổ vũ cho một lối phê bình “không sợ sự thật”, một thái độ nghiên cứu đi đến cùng sự thật. Nói như Kinh Thánh, “Sự thật sẽ giải thoát anh em” (Jean 8: 32).
Xin cảm ơn các bạn. Xin cảm ơn Inrasara và Thụy Khuê.
http://vanviet.info/so-dac-biet/pht-bieu-cua-ban-gim-khao-ve-giai-nghin-cuu-ph-bnh/